Caodai.net (Biên khảo & dịch thuật)

Khái lược Cao Đài đạo sử

Đạo Cao Đài

 

Khai minh vào đầu thế kỷ 20, Đạo Cao Đài còn có danh xưng khác là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (phổ độ lần thứ ba vào kỳ Hạ Ngươn). "Cao Đài": nghĩa đen nói đến "một cái đài cao", nghĩa bóng là nơi cao nhất ở đó Thượng đế ngự trị; cũng là danh xưng rút gọn của Thượng đế trong tôn giáo Cao Đài, vốn có Thánh danh đầy đủ là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát". Để cảm thấy gần gũi với đức cha Trời, một số các tín hữu Cao Đài thường gọi tôn giáo của mình là đạo Thầy, nhưng trong ngữ ngôn kỉnh lễ, tín đồ tôn kính Thượng Đế là đấng Chí Tôn.

 

Người Cao Đài tin rằng Thượng đế là Đấng duy nhất (khí hư vô sinh Thái Cực) khai sinh ra càn khôn (vũ trụ), bao gồm hằng hà sa số muôn vật, muôn loài, và các tôn giáo ở thế gian này đều do một tay "Ngài" gián hay trực tiếp khai lập. Riêng, trong tôn giáo Cao Đài thì tất cả các phần về : biểu tượng, giáo lý, hệ thống và tổ chức... đều do "Đức Cao Đài" trực tiếp chỉ đạo bằng phương tiện "Cơ bút" xuyên qua các môn đồ tiền khai với nhiệm vụ sáng lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, có nghĩa là Nền đạo lớn phổ độ chúng sanh lần thứ Ba.

 

Cao Đài là một tôn giáo mới, có tính dung hợp các tôn giáo lớn, chủ yếu là Phật giáo, Tiên giáo và Nho giáo. Tín đồ Cao Đài giáo buộc phải thi hành những giáo điều của Đạo như : tránh sát sinh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, giữ trai giới và thực hành tình yêu thương vạn loại.

 

Là một tôn giáo mới mẻ, được sáng khai chính thức vào năm 1926, đạo Cao Đài nhanh chóng phát triển một cách quy mô về tổ chức cũng như số lượng lớn tín đồ. Theo thông tin của Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam, dẫn thống kê năm 2010 của các tổ chức Cao Đài giáo, thì đạo Cao Đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 2,4 triệu tín đồ, với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có giáo dân Cao Đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao Đài) [1].

 

Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada), Châu Âu và Úc. Theo trang thông tin và truyền giáo Cao Đài hải ngoại, số tín ngưỡng Cao Đài trên toàn thế giới, phỏng định vào khoảng 5 triệu người [2].

 

- Lược sử hình thành và phát triển

 

Lịch sử của đạo Cao Đài gắn liền với sự phổ biến "Cơ bút" tại Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. Có thể nói, "Cơ bút" là nền tảng căn bản của mọi yếu tố liên quan đến quá trình hình thành và phát triển tôn giáo Cao Đài trong mọi thời điểm, từ việc thu nhận tín đồ, phong chức sắc, ban hành luật đạo, các nghi thức cúng tế, phẩm phục, kinh điển, thậm chí đến các thiết kế cơ sở thờ tự cũng được thông qua bằng phương tiện "Cơ bút".

 

Hai hình thức Cơ bút ảnh hưởng đến sự ra đời của tôn giáo Cao Đài là thuật Xây (xoay) Bàn (la table tournante) theo thuyết Thông linh học (Spiritisme) đến từ Pháp, và viết chữ trên cát bằng Đại ngọc cơ (大玉機) có xuất xứ từ Trung Quốc.

 

- Những môn đệ đầu tiên

 

Các tài liệu về tôn giáo Cao Đài đều thừa nhận, người được xem như môn đệ đầu tiên của Thượng Đế là ông Ngô Văn Chiêu (còn có tên là Ngô Minh Chiêu). Là một quan chức cao cấp trong chính quyền Pháp, vốn chịu ảnh hưởng của Minh Sư đạo, một nhánh của Tam giáo, ông Chiêu thường xuyên tới lui ở những nơi hay tổ chức các buổi đàn cơ, để giao tiếp với các đấng Thiêng liêng.

 

Trong những năm làm quan phủ trấn nhậm ở Dương Đông, Phú Quốc (1919), ông Chiêu thường thiết đàn thỉnh Tiên để cầu thuốc cứu chữa bịnh nhân cùng học hỏi về đường đạo đức.

 

 

Có một vì tiên giáng cơ xưng là Cao Đài Tiên Ông, thường kêu đích danh quan phủ Chiêu mà dạy Đạo, và cũng trong thời gian này, phủ Chiêu đã hạnh ngộ "Thiên Nhãn" (biểu tượng Cao Đài giáo), đồng thời đức Cao Đài đã thúc đẩy ông bước các bước đầu tiên để nhen nhúm đóm lửa Cao Đài và sau này mồi lửa đó đã trở thành rực sáng do bởi sức vun bồi của các môn sinh khác của đấng Cao Đài Thượng Đế.

 

Ông Ngô văn Chiêu >>

 

Vào khoảng tháng sáu năm Ất Sửu (1925), một nhóm công chức khác cũng làm việc trong chính quyền Pháp ở Sài Gòn, chịu ảnh hưởng bởi phong trào Thông linh học đang bành trướng ở các châu lục thời bấy giờ [3] gồm có các ông : Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang, thường xuyên tổ chức cầu cơ giải khuây ở đường Arras [4], Sài Gòn.

 

Vốn tại các thành viên sáng lập mang họ Cao và họ Phạm, nên nhóm "cầu cơ" nói trên còn được gọi là nhóm Cao-Phạm. Trong nhóm, còn có một nữ thành viên là bà Nguyễn Thị Hiếu, tức Hương Hiếu (Thánh danh của bà Hiếu khi đạo Cao Đài thành hình), vợ ông Cao Quỳnh Cư.

 

Nhóm này cũng đã tiếp xúc được với đức Cao Đài thuở ban đầu ẩn danh là ông "A,Á,Â" [5].

 

<< Di ảnh Ô.B Cao Quỳnh Cư và con trai.

 

Sau khi được đấng cha Trời thâu phục, nhóm Cao-Phạm sau đó cũng đã tiếp xúc với nhóm của ông Chiêu, để cùng phát triển nền tân giáo. Điểm nổi bật nhất trong thời gian này là việc đức Cao Đài thu nhận ông Lê Văn Trung, một nhân vật có đẳng cấp cao trong xã hội thời ấy, nguyên Nghị viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ. Cần biết thêm, về sau, ông Trung là người cầm giữ vai trò tối quan trọng của Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh (quyền Giáo Tông).

 

- Hợp nhứt khai đạo

 

Qua các liên hệ cá nhân, hoặc do Thượng Đế dẫn dắt, các nhóm cầu cơ được đấng Cao Đài tiên độ bắt đầu có sự liên hệ hợp nhất. Ngày 21 tháng 2 năm 1926, qua một buổi đàn cơ, một bài thơ đã được đức Cao Đài truyền đạt, trong đó có nêu tên của 12 người đầu tiên cầm giềng mối Đạo. Về sau, các vị này, được tín đồ Cao Đài xưng tụng như là những "tiền khai Đại Đạo". Kể từ đó, nền tảng giáo lý của Cao Đài được bổ túc và hoàn thiện dần. Số lượng tín đồ nhanh chóng phát triển lên đến hàng chục ngàn người. Một đàn cơ quy mô được thành lập ở Cầu Kho [6], về sau đàn Cầu Kho trở thành Thánh thất Cầu Kho, được xem là thánh thất đầu tiên của đạo Cao Đài.

 

Việc phát triển số lượng tín đồ nhanh chóng đòi hỏi phải có người lãnh đạo với phẩm vị chính thức. Vì vậy, vào khoảng cuối tháng 4 năm 1926, vâng theo lời dạy của đức Cao Đài thông qua một buổi đàn cơ, các đệ tử đầu tiên của Người đã công cử ông Chiêu vào chức vị Giáo tông của tân giáo hội, đồng thời cũng chuẩn bị sẵn cho ông Chiêu một bộ đạo phục "Giáo Tông" [7]. Tuy nhiên, ông Chiêu đã từ chối ngôi vị Giáo tông, do bởi một vài bất đồng ý kiến giữa các đồng đạo, từ đó, ông Chiêu không tham gia cũng như không có liên quan gì đến các hoạt động phát triển của giáo hội Cao Đài.

 

Để hợp pháp hóa tư cách là "một tôn giáo" với chính quyền thực dân, ngày 7 tháng 10 năm 1926, ông Lê văn Trung cùng với các sáng lập viên khác của đạo Cao Đài đã gởi đến Thống đốc Nam Kỳ Le Fol một bản tuyên cáo khai đạo bằng tiếng Pháp với chữ ký của 28 tín đồ có địa vị cao nhất trong tổ chức, kèm theo tờ khai tịch đạo có tên của 247 tín đồ khác. Sau đó, các thành viên sáng lập đã tổ chức 3 nhóm truyền đạo khắp các tỉnh Nam Kỳ. Ngày Rằm tháng 10 năm Bính Dần (tức ngày 19 tháng 11 năm 1926), tân giáo Cao Đài đã tổ chức lễ ra mắt công chúng rất long trọng tại chùa Gò Kén, còn gọi là Từ Lâm Tự, thuộc tỉnh Tây Ninh, với sự hiện diện của các quan chức chính quyền, cả Pháp lẫn Việt.

 

- Thăng trầm nền đạo

 

Tuy vậy, giữa các tín đồ đã xuất hiện những quan điểm bất đồng về cách thức tu tập, tổ chức giáo hội, hoặc do thành kiến cá nhân, cũng dần tách ra để hình thành các giáo phái Cao Đài độc lập. Một số nhánh tổ chức theo hình thức giáo hội (Hội Thánh), số khác, hoạt động riêng rẻ, nhưng không tổ chức thành giáo hội. Ngoài ra, còn có nhiều tổ chức khác mang tính chất đoàn thể.

 

Lý giải cho hiện tượng này, một số tín đồ tin rằng việc hình thành các nhánh Cao Đài khác nhau đã được Thượng đế tiên tri qua bài cơ bút điểm tên 12 tín đồ đầu tiên, sẽ bao gồm 12 hệ phái Cao Đài. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, cùng với không ít người Cao Đài giáo khác đều có nhận xét, rằng số lượng các chi phái Cao Đài có sự thay đổi tùy theo thời điểm chứ không luôn cố định là 12 giáo phái. Theo thời gian, các nhánh Cao Đài diễn ra nhiều cuộc chia tách, sát nhập... Thống kê trong lịch sử, người ta đếm được có khi, có đến hơn 30 tông phái khác nhau [8]. Trong thời gian qua, có rất nhiều nỗ lực hoạt động để thống nhất giáo hội nhưng đều bất thành do trở ngại từ nhiều phía, trong đó phải nói đến thành kiến về quan niệm hệ phái, giữa các tín đồ.

 

- Trong thời kỳ chiến tranh và loạn lạc

 

Tuy vậy, sự phân chia thành nhiều hệ phái đã không làm giảm thiểu tốc độ phát triển nền tân giáo, đạo Cao Đài đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng lớn ở Nam Kỳ, thậm chí phát triển ra cả ở Trung, Bắc Kỳ và cả Cao Miên. Các lãnh đạo Cao Đài đều là những người có học thức, có địa vị xã hội và rất ảnh hưởng đến quần chúng. Vì vậy, Cao Đài luôn là đối tượng hoặc để lôi kéo, hoặc bị đả phá đối với các thế lực cầm quyền.

 

Người Pháp ra tay trước tiên. Một tôn giáo có tổ chức chặt chẽ và có nhiều khả năng thu hút quần chúng như đạo Cao Đài luôn là mối đe dọa đến sự cai trị của chính quyền thực dân. Dưới áp lực của thực dân Pháp, các chỉ dụ cấm đạo ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Cao Miên và Ai Lao đã được ban hành.

 

Đỉnh điểm, ngày 28 tháng 6 năm 1941, lo ngại về việc một tôn giáo có thực lực ở Sài Gòn và vùng phụ cận có thể bị cuốn hút vào vòng ảnh hưởng của người Nhật, bấy giờ đã xâm nhập Đông Dương và đang ra sức lôi kéo các tôn giáo, giới chính trị... người Việt ủng hộ Chính sách Đại Đông Á của họ.

 

Chính quyền thực dân Pháp đã ra tay trừ khử trước ảnh hưởng của đạo Cao Đài trong quần chúng bằng cách bắt giữ Hộ pháp Phạm Công Tắc và đày đi Mã đảo (Madagascar). Nhiều chức sắc Cao Đài khác cũng bị bắt giam hoặc quản thúc. Tòa Thánh Tây Ninh bị chiếm đóng. Nhiều thánh thất Cao Đài tại các nơi khác cũng bị quản chế hay phá hủy.

 

Mặt khác, người Nhật và Việt Minh cũng tranh thủ ra sức kết vây cánh với các nhóm Cao Đài. Do sự vận động của các cán bộ Việt Minh, nhiều chức sắc Cao Đài, là lãnh đạo nòng cốt ở các phái Tiên Thiên, Ban Chỉnh Đạo và Minh Chơn Đạo, đã bí mật thành lập Hội Cao Đài Cứu Quốc. Hội hoạt động chủ yếu ở các vùng xa miền Tây Nam Bộ, bí mật tập hợp lực lượng trên nền tảng "Thanh niên Đạo đức đoàn", có xu hướng đấu tranh chống cả Pháp lẫn Nhật. Trong khi đó, tại Sài Gòn, quân đội chiếm đóng Nhật Bản đang muốn can thiệp để Pháp trao trả lại Tòa Thánh Tây Ninh cho giáo hội, và để đổi lại, Giáo sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh, người tạm thời thay mặt Hộ pháp Phạm Công Tắc lãnh đạo Tòa Thánh Tây Ninh), phải tập hợp giáo dân để hợp tác với quân đội Nhật chống Pháp. Khá đông tín đồ Cao Đài được tuyển làm nhân công cho xưởng đóng tàu Nichinan của quân đội Nhật tại Sài Gòn. Một lực lượng bán vũ trang Cao Đài được ra đời với tên gọi "Nội ứng nghĩa binh", dưới danh nghĩa được Hoàng thân Cường Để chỉ thị thành lập để liên minh với Nhật Bản.

 

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, lực lượng bán vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh với đồng phục trắng, đội mũ bê-rê, vũ trang bằng tầm vông vót nhọn đã tham gia hỗ trợ Nhật đảo chính Pháp tại Sài Gòn. Bên cạnh đó, ngày 24 tháng 6 năm 1945, được sự hậu thuẫn của hội "Cao Đài Cứu Quốc", một đại hội các hệ phái Cao Đài (Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh không tham dự) được tổ chức tại Sài Gòn, thành lập tổ chức "Cao Ðài Hiệp Nhứt", gồm 11 Phái và ông Cao Triều Phát được bầu làm Chủ tịch. Trong Cách mạng tháng Tám, nhiều nhóm bán vũ trang Cao Đài đã gia nhập Cao Đài Cứu Quốc và tham gia giành chính quyền ở khắp Nam Bộ.

 

Sau khi giành được chính quyền cuối tháng 8 năm 1945, nhiều chức sắc Cao Đài được chính quyền Việt Minh mời ra tham chính. Tại Tây Ninh, một tín đồ Cao Đài là ông Trương Văn Xương được mời làm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chánh tỉnh, một chức sắc Cao Đài khác là Giáo sư Thượng Chữ Thanh (Đặng Trung Chữ) được mời làm cố vấn.

 

Sau đệ nhị thế chiến, Pháp tái phục hồi quyền lực khắp Đông Dương, các lực lượng vũ trang Cao Đài tham chiến chống cự tại các mặt trận số 1 và số 2, chiến đấu ở mặt Đông và Bắc Sài Gòn. Hồi kết vào Nam, đặc phái viên Trung ương Nguyễn Bình (Việt Minh) đã tổ chức hội nghị An Phú Xã, thống nhất tổ chức các đơn vị vũ trang thành các chi đội "Vệ Quốc đoàn". Lực lượng vũ trang Cao Đài được tổ chức thành 2 chi đội, chi đội số 7 do Nguyễn Thanh Bạch chỉ huy và số 8 do Nguyễn Hoài Thanh (còn gọi là Nguyễn văn Thành) chỉ huy.

 

Tuy nhiên, trước sức mạnh của quân Pháp, các mặt trận nhanh chóng tan vỡ. Nhiều đơn vị vũ trang tan rã, hoặc trở thành những lực lượng quân phiệt cát cứ, không chịu sự chỉ huy thống nhất. Một số chức sắc cao cấp và chỉ huy quân sự Cao Đài đã tự đưa lực lượng của mình rút về Tây Ninh và tự xây dựng các phòng tuyến để bảo vệ Tòa Thánh.

 

Hành động cát cứ này là lý do để các phần tử Việt Minh quá khích lên án các tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh là phản bội. Một vài cuộc xung đột đẫm máu đã nổ ra, bắt nguồn từ những tín đồ Cao Đài và các phần tử Việt Minh quá khích. Một số đơn vị vũ trang Cao Đài bị tước khí giới trong những cuộc thanh trừng nội bộ. Giáo sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh) cũng bị bắt tại Chợ Đệm và bị giải giam tại Cà Mau cùng với Giáo sư Hồ Văn Ngà, Chủ tịch "Việt Nam Độc lập Đảng".[9]

 

Quân đội Cao Đài

 

Nắm được sự mâu thuẫn đó và để tranh thủ thêm đồng minh trong cuộc chiến chống Việt Minh, chính quyền Pháp đã trả tự do cho Hộ pháp Phạm Công Tắc trở về Tòa Thánh Tây Ninh, đổi lại, quân đội Cao Đài sẽ không chống đối người Pháp nữa và sẽ được quân đội Pháp hỗ trợ. Thậm chí, chính quyền Pháp còn cho phép các phần đất do Tòa Thánh Tây Ninh cai quản có quyền tự trị. Lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được chính quyền Pháp bảo trợ và trang bị vũ khí, đặt dưới quyền điểu khiển của Trung tướng Trần Quang Vinh là Tổng tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thành làm Tham mưu trưởng [10], có vai trò như một lực lượng bổ sung (Forces supplétives), hỗ trợ quân Pháp trong các chiến dịch tấn công Việt Minh.

 

Trung tướng

Trần Quang Vinh

Thiếu tướng

Nguyễn văn Thành

 

Bất đồng với sự hợp tác này, một số chức sắc Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh tham gia kháng chiến đã gia nhập Cao Đài Cứu Quốc, mở rộng thành Cao Ðài Cứu Quốc 12 phái Hiệp Nhứt [11]. Các lực lượng vũ trang của Cao Đài Cứu Quốc được tập hợp thành Trung đoàn 124, chiến đấu cho đến hết cuộc Kháng chiến chống Pháp dưới quyền chỉ huy của Việt Minh.

 

- Hợp tan, tan hợp

 

Sau năm 1954, tổ chức Cao Đài Cứu Quốc tuyên bố giải thể. Các phái liên hiệp trước đây trở về sinh hoạt riêng rẽ. Một số chức sắc tập kết ra Bắc, hình thành Hội Thánh Duy Nhất thuần túy sinh hoạt tôn giáo. Tại miền Nam, Tòa Thánh Tây Ninh dưới sự hậu thuẫn của người Pháp đã trở thành tổ chức Cao Đài lớn nhất, có quân đội riêng, có ảnh hưởng chính trị mạnh, đã trở thành cái gai trong mắt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Để dẹp các trở ngại trong việc thâu tóm quyền lực, Thủ tướng Diệm đã mua chuộc, gây chia rẽ trong nội bộ, và cuối cùng giải giáp lực lượng quân đội Cao Đài, buộc Hộ pháp Phạm Công Tắc phải lưu vong sang Campuchia cho đến ngày ông liễu đạo.

 

Giáo hội Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh chỉ được công nhận trở lại tại miền Nam từ năm 1965, khi Hội đồng tướng lĩnh lên nắm quyền và muốn xóa đi thành kiến tôn giáo. Mặc dù vậy, với sự cầm quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, người Cao Đài tốt hơn hết là chỉ nên sinh hoạt thuần túy tôn giáo và không nên tham gia vào chính trị, vì vậy các tổ chức Cao Đài không còn ảnh hưởng mạnh đến chính trị và xã hội như trước.

 

Nội chiến nam bắc phân tranh ý thức hê "Quốc-Cộng" kết thúc vào cuối tháng tư, năm 1975, Cao Đài giáo lại một lần nữa phải chịu thêm thử thách mới khi những người Cộng sản nắm quyền kiểm soát toàn bộ quốc gia. Giáo hội Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh bị buộc tội là đã cộng tác với những cựu thù của chế độ, thậm chí còn tham gia chống đối chính quyền mới. Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh bị giải thể. Các hệ phái Cao Đài khác cũng là đối tượng công kích và bị chính quyền mới buộc tội tuyên truyền cho tệ nạn mê tín. Trong thời gian này, các hoạt động tôn giáo hoàn toàn bị hạn chế, các tín đồ trung kiên với đức Cao Đài chỉ còn cách cầm giữ lòng thành tín hiệp qua những sinh hoạt hạn hẹp chờ đợi ngày mai sáng lạn hơn.

 

- Một tôn giáo lớn tại Việt Nam

 

Đi liền với chính sách mở cửa (kinh tế) của chính quyền Việt Nam, các tôn giáo, trong đó có cả Cao Đài dần dà cũng cảm thấy dễ thở hơn. Tòa Thánh Tây Ninh được mở cửa lại và được phép triển khai các hoạt động tín ngưỡng trong định chế, và còn hơn thế nữa, Đền Thánh Tây Ninh sau này được xem như một di tích tham quan du lịch quốc tế. Từ năm 1995 đến 2010, chính quyền bắt đầu lần lượt công nhận các tổ chức tôn giáo Cao Đài như những tổ chức hợp pháp, gồm 9 Hội Thánh Cao Đài có tổ chức cấp giáo hội, 1 Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi và 18 tổ chức Cao Đài hoạt động độc lập. Ước tính hiện tại, toàn đạo có khoảng gần 3 triệu tín đồ trong cả nước, sinh hoạt tại 38 tỉnh thành, tập trung chủ yếu ở Nam Bộ. Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Úc.