Caodai.net (Danh nhân đại đạo)

Ngài Lê Văn Lịch

 

Lê Văn Lịch (1890-1959 (47 ?))

 

Tài liệu trích trong Lịch Sử đạo Cao Ðài thời kỳ tiềm ẩn (1920-1926)

Bổ túc thêm ngày 27/08/2000 dựa theo Lich Sử Cao Ðài Ðại Ðạo soạn gỉa Ðồng Tân

 

Ông Lê văn Lịch tự là Thạch Ẩn Tử, sinh ngày mùng 1 tháng 9 Canh Dần (14-10-1890), tại xả Long An, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ lớn. Ông tạ thế đêm mùng 2 tháng 9 Kỷ Hợi (03-10-1959) tại Chợ Lớn (có sách nói 1947).Thân phụ Ông là Lê Văn Tiểng, trụ trì chùa Vĩnh Nguyên, tu dến phẩm Thái lão Sư, đạo hiệu là Lê đạo Long, chứng quả Như Ý Ðạo Thoàn Chơn Nhơn. Thân mẩu Ông Lịch là Trần Thị Ðắc, và phối ngẩu của Ông là Trần Thị Khá (chứng quả Diệu Hạnh Tiên Cô). Tất cả gia đình đều tu theo sự chỉ dạy của Thái Sư Lê Ðạo Long. Con gái thứ năm của Ông Lịch là Lê Ngọc Trang, thánh danh Bạch Tuyết, tu theo Cao Ðài, chứng quả Quán Pháp Chơn Tiên.

 

Ông Lịch còn thọ nhận từ Thái lão Sư Lê Ðạo Long bí thuật huyền môn của đạo lão và y thuật. (Sau tu theo Cao Ðài, Ông không dùng bí thuật huyền môn nữa, và chỉ truyền lại cho con gái là Lê Ngọc Trang y thuật cổ truyền.)

 

Thái Lão Sư Lê Ðạo Long trước lúc viên tịch đã tiên tri đạo Cao Ðài xuất thế, nên thận trọng lưu lại di ý, dặn con và các môn đệ Vĩnh Nguyên Tự sau này phải sớm qui hiệp với đạo Cao Ðài.

 

Khoảng đầu năm Bính Dần, nhóm Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc vâng lệnh Ðức Cao Ðài, đến chùa Vĩnh Nguyên xin Ông Lịch lập đàn. Bấy giờ Ông Tương đang làm Chủ quận Cần Giuộc, lại là tín đồ Cao Ðài, nên đã thuyết phục vị chủ chùa chấp thuận đề nghị. Trong đàn cơ hôm ấy, Ðức Thái lão Sư Lê Ðạo Long đã nhắc lại di ý của Ngài khi xưa và khuyên môn đệ qui hiệp Cao Ðài.

 

Những năm đầu khai Ðạo, ông Ngọc Lịch Nguyệt (thánh danh của ông Lê Văn Lịch) đã đóng vai trò không kém ông Thượng Trung Nhật (thánh danh của ông Lê Văn Trung, quyền Giáo Tông). Chính ông đã dược lịnh dạy soạn các bản kinh từ Minh sư trong tam kinh Tam Thánh Ðại Ðộng. Sau giai đoạn Từ Lâm Tự, ông được lịnh mở các Tịnh Thất ở lục tỉnh thì nữa chừng có giấy triệu hồi vì cho rằng tuyên truyền lập phái (1). Từ đó ông hợp tác với Tiên Thiên, rồi Liên Hòa Tổng Hội. Năm 1943, ông bị Pháp bắt đày đi Côn Ðảo, đến năm 1945 mới được thả về, cho đến 1947, ông viên tịch tại Cần Giuộc và ngôi mộ còn trước Vĩnh Nguyên Tự hiện nay.

 

Chùa Vĩnh Nguyên về sau được coi là một trong những nơi phát tích của đạo Cao Ðài, là nơi đã diển ra nhửng sự kiện quan trọng trong buổi khai nguyên nền Ðạo.

 

(1) Trong Châu Tri số 67, ngày 31/12/1930, gửi cho Ðầu Họ Ðạo và chủ Thánh thất, ông Ngọc Chánh phối sư Lê Bá Trang có viết như sau : "Tôi có nghe nhiều chức sắc và lắm đạo hữu đặt điều đi mê hoặc dụ dổ nhơn sanh ; đến các Thánh Thất truyền bá việc cầu sám, cầu đạo theo cựu luật Minh đường, Minh sư, dạy ăn ngọ và tuyệt cốc v.v...

 

Mấy người này lấy ý riêng mà làm, không có lệnh Tòa Thánh cho. Ấy là điều gỉa dối. Mấy người này muốn mê hoặc nhơn sanh, tặng mình đạo cao, làm tôn sư tại thế, thiệt trái hẵn với ÐÐTKPÐ. Tôi đã hay, có giáo hữu Ngọc Chính Thanh đi mê hoặc đạo hữu, buộc minh thệ rồi y vẽ bùa chú dạy tập bay, té lên, té xuống và làm nhiều việc phi lý ...". Giai đoạn này, phái Tiên Thiên được sự tán trợ của ông Ðầu sư Ngọc Lịch Nguyệt, vốn rành cựu luật Minh Ðường. Phải chăng vì thế mà ông bị triệu hồi về Tòa Thánh ?  (Trích Lich Sử Cao Ðài Ðại Ðạo soạn gỉa Ðồng Tân).