Caodai.net (lịch sử đạo Cao Đài)

Đạo sử xây bàn, quyển một (phần 1)

Sơ  Giải Sự  tích xây  bàn

 

ImageLưu ý : Bạn đọc có thể tải toàn bộ về máy nhà qua đường dẫn này : ( download quyển Đạo sử xậy bàn, quyển 1 dạng Acrobat Reader *.pdf )

Năm  1925

Rút bài thuyết đạo của Đức Hộ-Pháp

tại Đền-Thánh đêm 17-8 Quí-tỵ (1953)

 

Đêm nay là ngày Vía của Nhứt-Trấn Oai-Nghiêm, kiêm Giáo-Tông Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

 

 Đức Lý Giáo-Tông chúng ta lấy làm hân-hạnh nhờ ơn Đức chí-tôn ban cho chúng ta một người anh cả Thiêng-Liêng hiển-linh quyền-năng vô-đối, Bần-Đạo nhớ lại hồi buổi ban sơ mới khai đạo, thật ra Bần-Đạo không có đức tin gì hết, không có đức tin đến nước Đại Từ Phụ tức cười. Ngài đến nhà Bần-Đạo năm Ất-sửu dạy cả mấy anh lớn ngày nay là chức-sắc của Đạo, đi đến mọi nhà, thật ra Đức chí-tôn đến thăm, đến viếng mọi con cái của Ngài, Bần Đạo không đức tin gì hết, nghe nói Tiên giáng đi theo nghe thi chơi, làm cho Đại từ-phụ phải tức cười. Ngài cho bài thi ai nấy cũng tốt, duy có bài thi của Bần-Đạo rất dị hợm như vầy: 

 

 Ngao ngán không phân lẽ thiệt không,

Thấy thằng áp-út quá buồn lòng.

Muốn giàu Thầy hứa đem cho của,

Cái của cái công phải trả đồng.

 

Chức sắc Hiệp Thiên Đài đang cầu cơ bút (xây bàn)

 

Đại từ-phụ còn thêm hai chữ "nghe con" cho đến bảy tháng lúc xuống ở Thủ-Đức, năm thiên-hạ bị bịnh chướng, khi không khởi phù mình rồi chết, nhứt là ở tại Thủ-Đức, lắm bịnh nhơn quá chừng, Đức chí-tôn biểu xuống ở Thủ-Đức cứu bịnh cho họ trong bảy tháng,  xuống ở Thánh-Thất của Đạo, nhờ Đức Lý giảng dạy với  ngòi bút, trọn bảy tháng trường mới biết  Đạo. Có cái  hay ho hơn  hết  là những điều gì Ngài dạy trong cơ bút là những sở hành trong  kiếp sanh của Bần-Đạo.

 

Bần-Đạo làm chứng một Đấng mà Đức chí-tôn đã lựa làm anh cả của chúng ta linh-hiển lạ lùng, không cần lập đi lập lại đối với chức-sắc tức nhiên cả Thánh-Thể của Đức chí-tôn, Bần-Đạo cốt-yếu nói với toàn con cái của Ngài nam nữ lưỡng-phái phải định tâm và kiên cố đức tin của mình, các việc  Đức chí-tôn tiên tri, Bần-Đạo vừa nói từ từ, nói đủ hết, Bần-Đạo thú-thật nhờ cái linh hiển của Ngài, nhờ Ngài giáo-hóa nên Bần-Đạo hôm nay được khối đức-tin mạnh-mẽ to-tát. Nếu không có nhờ anh cả vô-biên linh-hiển ấy chắc là phận-sự yếu-trọng của Bần-Đạo hôm nay chỉ mơ-hồ, đức tin yếu ớt, thiếu đức tin, thiếu cương quyết, thiếu tâm-Đạo vững chắc.

 

Bần-Đạo tưởng, nếu ba điều ấy thiếu thì nền chơn-giáo không được nên hình như thế nầy, cả thảy con cái Đức chí-tôn đều biết không có nền chơn-giáo nào chỉ có hai mươi mấy năm mà đặng bành-trướng, danh thể của nó cao-trọng truyền-bá một cách mau chóng như nền  Đạo Cao-Đài của Đức Chí-Tôn.

 

Hôm nay Bần-Đạo chứng chắc quả nhiên như vậy, cái năng lực của Đạo hôm nay được như thế là nhờ Đức Lý Đại-Tiên cầm quyền thiêng-liêng vô-đối, nhờ người anh cả của ta là Đức Lý Giáo-Tông điều-khiển quyền năng vô hình của Ngài.

 

Bần-Đạo hôm nay mới được cái quyền và năng-lực bành-trướng như thế này. Có  một điều Bần-Đạo dặn trước những kẻ tưởng Ngài vô-hình coi chừng Ngài, những kẻ thiếu đức-tin dám khi rẻ quyền-linh của Đạo, oai-quyền của Ngài, coi chừng Ngài trừng-trị, những  kẻ nào phạm nhầm thiên-điều, Bần-Đạo dám quả quyết khó tránh nơi tay của Ngài.

 

Các con cái của Đức chí-tôn coi Ngài rất công-bình. Ngài dạy :"Phải lập công, lập đức lập  ngôn, tức  nhiên là tam lập" Ngài rất công-bình, rất oai quyền, thiên-vị chúng ta nhờ Ngài bảo-vệ không thế gì sơ-sót.

 

Đức chí-tôn coi Ngài cũng như một tướng soái, oai-quyền của Ngài lớn lắm. Ở nơi Ngọc Hư Cung quyền của Ngài yếu-trọng vĩ-đại to-tát lắm.

 

Cả con cái của Ngài cũng nên tin nơi Ngài mong-mỏi nơi Ngài để cả ước-vọng và đức tin nơi Ngài.

 

Bần-Đạo xin khuyên một điều: lớn nhỏ phải yên tâm giữ Đạo, đừng sơ-sót, nhứt là đừng có ỷ công khi lịnh, coi chừng Ngài, Ngài trừng-trị một cách oai-quyền, trước mắt Bần-Đạo đã thấy, hai mươi mấy năm lập Đạo cùng Ngài, Bần-Đạo quả quyết như vậy.

 

Chúng ta hãy để trọn đức-tin nơi Ngài một Đấng công-chánh oai-quyền, nhưng rất yêu-ái. Chúng ta được Ngài bảo-vệ cho thật là một sự an-ủi vĩ-đại trong kiếp sanh của chúng ta đó vậy.

 

Lời Phi-Lộ

 

Cây có cội, nước có nguồn, Đại-Đạo khai sáng có nguyên-lý số là nhân dân Việt-Nam đã trải qua nhiều thế-kỷ làm  nô-lệ cho ngoại-bang như Tàu, Pháp, nhưng việc gì cũng có giới hạn nên từ năm 1954 sau khi dân-tộc Việt đứng vậy chống Pháp, làm cho quân Pháp rút ra khỏi xứ, trả đất lại cho ta làm chủ, trả quyền tự-do ăn ở, đi lại, cho ta phục hưng trong đó có tự-do tín-ngưỡng là trọng hệ.

 

Đại-đạo Tam-kỳ  Phổ-độ khai sáng tại Việt-Nam từ năm 1926, người bổn Đạo lúc ấy còn quyền đời bó buộc. Mãi tới năm 1956 Hội-Thánh ký thỏa ước với Chánh-Phủ Cộng-Hòa ước hẹn không làm chánh-trị và được trọn quyền truyền-bá mối Đạo khắp xứ Việt-Nam. Sự lý Đức chí-tôn  không giao cho tay phàm chấp chưởng quyền bỉnh là vì tay phàm hay để thất kỳ truyền và hiện nay chính Đức chí-tôn làm Giáo-Chủ dùng huyền diệu cơ-bút phổ-truyền chánh-pháp và luật-lệ. Buổi sơ khởi, Đức chí-tôn và Đức phật-mẫu chịu nhiều nhọc nhằn và dụng nhiều phương-pháp thâu nhận những người hữu căn ra công giúp Đạo. Trong dịp này Bà Chánh Phối-Sư  Hương-Hiếu được đại hạnh hầu nhiều đàn-cơ, thọ nhiều Thánh-Giáo biết nhiều tế nhiên nên Bà chịu khó viết bổn Đạo-Sử để lưu truyền ư hậu-thế. Xem quyển Đạo-Sử của Bà, đọc-giả dường như trải qua một giấc huỳnh-lương mộng, tưởng mình  như có mặt tại chỗ hồi mở Đạo bắt nguồn từ Sài-Gòn lên Gò-Kén rồi tới trung-tâm điểm Tây-Ninh, không xót một chi tiết nào để giúp ích cho người khảo-cứu làm tài-liệu.

 

Công  phu của Bà Chánh  Phối-Sư rất nhiều, thế-hệ đương kim chỉ có công đọc mà hiểu biết phần nào mầu nhiệm của Đạo, nếu không đọc thật rất uổng.

 

Nay lời

 

Tòa-Thánh ngày 29 tháng 11 năm Đinh-Mùi

( 30 - 12 - 1967 dl )

Bảo-Thế Hiệp-Thiên-Đài

Lê-thiện-Phước

***

Giới Thiệu

 

Một cuốn sử-đạo, muốn có giá trị và có tính cách khách-quan, tả đúng sự thật, thì cần có người cố cựu rõ thấu các việc từ đầu chí cuối.

 

Như Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương-Hiếu chẳng hạn, vì Bà luôn luôn có mặt tại các nơi xây bàn lúc đầu và các đàn-cơ về sau, nên mỗi việc gì xảy ra hoặc mỗi bài Thánh Giáo do cơ-bút giáng dạy, Bà đều ghi chép lưu lại mà Bà đã thuộc lòng một phần lớn. Nay vì tuổi đã cao, sợ không đủ thời giờ để giúp sử liệu cho Đạo, nên Bà cho xuất-bản cuốn "Đạo-Sử Xây-Bàn" nầy để lưu lại  cho hậu-thế. Âu cũng là điều đáng mừng cho tiền đồ quốc-đạo vậy.

 

Thay vì đề lời tựa, tôi xin trân trọng giới-thiệu cùng chư quí độc-giả cuốn lược sử nầy do một nữ lão-thành biên-soạn, đúng sự thật một trăm phần trăm, đáng được lưu-trữ đời đời, để làm tài-liệu cho sự khảo-cứu có đầy-đủ chi tiết ngọn-nguồn, có thể giúp ích phần lớn cho các nhà soạn sử sau nầy.

 

Nay Kính

Hiến-pháp  Hiệp Thiên Đài

Trương-Hữu-Đức

 

Sơ giải sự tích xây bàn,

 

Nhận xét muôn việc chi chi cũng có Thiên-thơ định giờ nên các chơn-linh mới giám tình-nguyện lãnh lịnh hạ thế cứu đời lập Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ ân xá kỳ ba nầy.

 

Thời kỳ gặp đạo năm Đức Cao-Thượng-Phẩm 37 tuổi (1925) nhằm thời kỳ Đức Thượng-Đế mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ dùng huyền  diệu bố trí cho ba ông là: Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh hâm mộ xây bàn đêm nào ba ông cũng hợp lại với nhau để xây chiếc bàn lên, ba ông thành tâm khuẩn cầu hơi lâu lâu thì quả thật hiển-linh. Có các Đấng giáng-đàn cho thi văn và nhiều bài Thánh-Giáo triết-lý cao-siêu nhiệm-mầu; cũng nhờ phép linh có các Đấng mà ba ông đêm  nào cũng thích xây-bàn cầu các Đấng học hỏi Thiên-cơ.

 

Bởi vì có cuộc xây-bàn mới có mở được đường xuất thánh cho nhơn-sanh hưởng hồng-ân của chí-tôn trở về cựu vị, xây-bàn là làm cho dễ-dàng sự giao-thông, người dưới thế mà được gần-gũi cùng các Đấng vô-hình, học hỏi nhiều sự huyền phép thiêng-liêng ban cho, ba ông mới mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ năm Bính-Dần (1926).

 

Xây-bàn là vô cùng linh-hiển, đến gây cảm tình  cùng ba ông: Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh, các Đấng đến lập phương thế thông công cõi vô-hình hiệp với  hữu-hình đặng mở cơ tận độ 92 ức nguyên-nhân đang trầm-luân nơi khổ-hải nầy.

 

Ngày 15 tháng 10 năm Đinh-Dậu (1958).

 

Biên-Soạn

Nữ chánh phối-sư Hương-Hiếu

 

***


Đạo Cao-Đài ra đời hơn 42 năm nay, phần đông Chức-Sắc đều biết rõ là lúc ban sơ Đức Chí-Tôn dùng huyền-diệu cơ-bút thâu-phục các Chức-Sắc thượng-cấp Hiệp-Thiên-Đài, dùng những vị nầy trong việc phò-loan để lập thành Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

 

Trước thời kỳ Chức-Sắc Hiệp-Thiên-Đài được lịnh dùng đại Ngọc-Cơ trong việc truyền giáo thì chỉ là một giai đoạn chơi giải-trí của ba vị, cùng nhau kết bạn đồng tâm để vui thú cầm thi trong khi nhàn-rỗi. Cuộc chơi giải-trí đó là việc "xây-bàn" và ba vị nói trên chính là: Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc, và Cao-Hoài-Sang (sau được đắc phong là Thượng-Phẩm, Hộ-Pháp, Thượng-Sanh). Vốn là nhà thi-sĩ và chất chứa nơi tâm nỗi câm hờn vì nước nhà bị đô-hộ, ba vị nầy mượn thú xây-bàn, mời vong-linh những người quá vãn để cầu hỏi về vận-mạng tương-lai của tổ-quốc hoặc làm thi, xướng họa chơi cho tiêu khiển.

 

Lúc sơ khởi thì cũng gặp nhiều khó khăn, vì trong  đêm đầu, ba vị đốt  nhan khấn vái, ngồi  để tay trên bàn từ 9 giờ tối đến 2 giờ  khuya mà không có kết quả chi hết. Cố tâm nhẩn nại ba vị ngồi thêm đêm thứ nhì (nhầm ngày 26.7.1952) thì đúng 12 giờ khuya có một vong-linh nhập bàn, gõ chữ ráp thành bài-thi đường luật 8 câu, đó là bài-thi tự thuật  của cụ Cao-Quỳnh-Tân thân sinh ông Cao-Quỳnh-Cư. Sự cảm động và ngạc nhiên của ba vị đến thế nào quyển Đạo-Sử nầy đã nói rõ.

 

Cách mấy đêm sau, vong-linh cô Đoàn-Ngọc-Quế nhập bàn cho bài thi tự-thán; thiệt là lời châu-ngọc điệu thi văn nghe qua ngậm-ngùi xúc cảm. (Đoàn-Ngọc-Quế là giả-danh của cô Vương-Thị-Lê tức là Tiên-Cô Thất-Nương Diêu-Trì-Cung). Thấy sự hiển-linh và huyền-diệu trong sự tiếp-xúc với người cõi vô-hình, ba Ông tích-cực say mê việc xây-bàn, đêm nào cũng hợp  nhau, ngồi cho tới ba hoặc bốn giờ sáng mới nghỉ.

 

Từ đó đến sau thì các vị Tiên Thánh thường nhập bàn, khi thì cho thi-phú hoặc giải-nghĩa thi văn khi thì xác luận về vận mạng nước nhà, đánh trúng chỗ yếu điểm của tâm hồn ba ông khiến cho cả ba điều ngây-ngất trong niềm vui sướng. Tiếp được bài thi nào hay thì khi dứt cuộc xây-bàn, ba ông nán lại: hai ông rao đờn, một ông ngâm thi rồi cùng nhau mượn chung rượu đầy vơi trong lúc tàn-canh để gợi hứng niềm hoài-cảm. Cái đêm mà ba ông ngậm-ngùi và xúc động hơn hết là đêm 10.11.1925, Đức Tả-Quân Lê-Văn-Duyệt nhập bàn cho bài thi như sau:

Đã nghe phen phấn khởi can-qua,

Thuộc địa trách ai nhượng nghiệp hà

Trăm họ than-van nòi bộc lại

Ba kỳ uất-ức phép tây-tà.

Xa thơ biến gảy rời vương-thất

Đem đảnh hầu thay sáng quốc-gia

Ách nước nạn dân gần muốn nản,

Hết hồi áp chế tới khi hòa.

Cách mấy hôm sau, Đức Tả-Quân Lê-Công cũng nhập bàn cho tiếp bài thi thứ nhì :

Khi hòa tùy có chí đồng thinh

Vận nước nên hư cũng bởi mình.

Tôi giặc lắm người xô võ-trụ

Lòng-trung mấy kẻ xót sanh-linh.

Đường dài chớ nệ ngàn công gánh,

Bước nhọc đừng nao một dạ thình.

Đồ sộ giang sơn xưa phủi sạch,

Trông vào tua vẹn nỗi đinh-ninh.

Ông Cao-Hoài-Sang bạch với Đức Ngài: "Trong tình thế hiện tại, các nhóm Cần-Vương Đất-Việt có nên họp nhau đứng vậy làm cách mạng để thoát ách nô-lệ chăng?"

 

Đức Ngài trả lời bằng bài thi:

Mạnh yếu hai đàng đã hiển nhiên,

Đôi mươi năm nữa nước nhà yên.

Dằn lòng ẩn nhẩn xem thời-thế,

Đừng vội gây nên cuộc đảo-huyền.

( Ba bài thi nầy không có biên trong cuốn "Đạo-sử xây-bàn" nên tôi soạn chép ra đây).

 

 Nhờ chơi xây-bàn mà ba ông Cư, Tắc, Sang học hỏi đạo-lý, trau giồi trí-thức cho tới ngày Đức A.Ă.Â. (chính là Đức chí-tôn) dạy ba ông vọng Thiên-Bàn ngoài sân, quì giữa Trời mà cầu Đạo (nhằm ngày mùng 1 tháng 11 Ất-Sửu, dl 16.12.1925).

 

Đó là ba vị đệ-tử mà Đức chí-tôn thâu nhập môn trước nhứt trong Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ (Tây-Ninh). Sau đó Đức chí-tôn thâu phục chư vị Thời-Quân Hiệp-Thiên-Đài, vị Đầu-Sư Thượng-Trung-Nhựt và các vị Đại Thiên-Phong Cửu-Trùng-Đài.

 

Do lịnh của Đức chí-tôn ngọc hoàng thượng đế ba vị Thượng-Phẩm, Hộ-Pháp, Thượng-Sanh hiệp với chư vị Bảo-Văn Pháp Quân, Bảo-Pháp, Hiến-Pháp, Khai-Pháp, Tiếp-Pháp chia nhau đi khắp các Tỉnh nam phần để phò loan, thâu người cầu đạo nhập môn.

 

Cuốn "đạo-sử  xây-bàn" do bà nữ Chánh Phối Sư Hương-Hiếu dày công biên soạn, rất đầy đủ và đúng sự thật, từ lúc ba vị Thượng-Phẩm, Hộ-Pháp, Thượng-Sanh khởi sự xây bàn cho đến khi được lịnh dùng cơ-bút cho Đức chí-tôn lập thành nền Đại-Đạo. Đó là một kho tài-liệu quí báu vô-giá, phô bày rõ-ràng nguồn cội khai-sáng Đạo-Trời tại nước Việt-Nam mà mỗi Chức-Sắc và Tính-Hữu cần nên đọc qua để nhận xét.

 

Tòa-thánh, Ngày 22 tháng 12  Đ.Mùi

(DL 21.1.1968)

Thượng-sanh Cao-hoài-Sang

 

Ðạo sử xây - bàn

(Năm Ất-Sửu) 1925

( Hội-Thánh giử bản quyền )

 

Thượng tuần tháng 6 năm Ất-Sửu (1925), ông Cao-Quỳnh-Cư đến nhà ông Cao-Hoài-Sang thăm chơi, để cùng ông Cao-Hoài-Sang và ông Phạm-Công-Tắc hàn-huyên tình đời thế sự, vì ông Phạm-Công-Tắc cũng ở gần nhà ông Cao-Hoài-Sang bên cạnh chợ Thái-Bình dãy phố hàng-dừa Sài-Gòn.

 

Hết hồi đàm-đạo với chén trà câu-thơ, giờ càng khuya, ông Cao-Quỳnh-Cư dường như có thần-linh thúc-dục hay vì linh-tánh khích-động nên nghĩ ra việc xây bàn tiếp xúc với các vong linh khuất mặt, thì hai ông Phạm-Công-Tắc và Cao-Hoài-Sang cũng đồng tình hưởng-ứng.

 

Ba ông mới đem ra trước hiên một cái bàn vuông bốn chân (1) rồi cả ba đồng để tay lên bàn, chưa mấy phút thì cái bàn rung chuyển liền một cách nhẹ nhàng và nhanh chóng, dường như hăm hở lắm vậy.

 

Tiếp đó bàn bắt đầu nhịp chơn gõ chữ, bàn gõ một tiếng các ông đọc A, hai tiếng đọc B, cứ như vậy đến khi bàn ngưng lại tại chữ gì thì lấy chữ đó, và cứ như vậy ráp vần thành ra chữ và thành câu có ý nghĩa.

 

Đêm ấy có nhiều vong linh nhập bàn viết tếng Anh, Pháp và Hoa, cũng có vong linh học sinh Hà-Nội viết tiếng Việt-Nam.

 

Buổi xây bàn đêm ấy là lần đầu-tiên, có lẽ là có nhiều chư vong muốn nhập và tranh nhau nói chuyện nên làm xáo trộn, cái bàn gõ khi chững-chạc, khi lựng-khựng, làm cho ba ông càng ngạc nhiên lại thêm chán nản, nhứt là ông Cao-Quỳnh-Cư nghi rằng có hồn ma hay ngạ quỉ vô phá phách, liền đó ông đề nghị không tiếp nhận các vong đó và đồng cùng hai ông ngưng việc xây bàn.

 

Qua đêm sau, nhằm ngày 6 tháng 6 Ất-sửu (26-7-1925), ba ông lại tiếp tục xây bàn nữa, vì tánh các ông cũng hiếu kỳ muốn hiểu rõ hiện tượng kỳ lạ nầy coi tại sao cái bàn linh động nhanh nhẹ và viết thành chữ nhiều thứ tiếng và có ý nghĩa nữa.

 

Minh họa : các đấng tiền khai tập xây bàn

 

Đêm nay ba ông không gặp trở ngại nào mà lại tiếp đặng một bài thi bát-cú tự thuật  :

THI

Ly trần tuổi đã quá năm mươi,

Mi mới vừa nên ước đặng mười.

Tổng mến lời khuyên bền mộ chép,

Tình thương căn dặn gắng tâm đời.

Bên màn đôi lúc trêu hồn phách,

Cõi thọ nhiều phen đặng thảnh-thơi.

Xót nỗi vợ hiền còn lụm cụm,

Gặp nhau nhắn nhủ một đôi lời

Ký tên  : Cao-Quỳnh-Tuân

(Thiên-Đình)

 

 

Cao-Quỳnh-Tuân Chính là phụ-thân ông Cao-Quỳnh-Cư ly trần hơn 25 năm về trước.

 

Đọc tới câu thứ 7 ông Cao-Quỳnh-Cư quá mủi lòng cảm động, lúc nầy hai ông Phạm-Công-Tắc và Cao-Hoài-Sang cũng bùi ngùi ; ông Cao-Quỳnh-Cư vội thốt : thưa Thầy (1) ngày mai con định nấu một mâm cơm cúng, con kính kĩnh thầy về chứng lòng thảo của con. Vong linh nhập bàn liền chuyển cái bàn gõ 2 cái, ngỏ ý khứng lời mời của con và kế đó vong xuất.

 

Sau khi tiếp đặng bài thơ đường-luật, vừa cao sâu vừa thâm thúy vì quá hiển hích đúng với lời của một từ-phụ nhắn nhủ lại cùng con, tinh thần trí não ba ông càng thêm bấn loạn, vừa ngạc nhiên vừa cảm phục văn-chương và ý nghĩa bài thơ.

 

Qua đêm mùng 10 tháng 6 Ất-sửu (30-7-1925), nghĩa là 4 đêm sau, ba ông cũng họp lại tại nhà ông Cao-Hoài-Sang mở cuộc xây bàn nữa, kỳ nầy cái bàn lại chuyển động một cách khoan thai, dịu dàng đoán chừng như bóng dáng của một tiên nga hạ trần, thì ra lời đoán không sai vì đó là vong một vị nữ-linh giáng đàn cho thi.

THI

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai,

Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.

Những ngỡ trao duên vào ngọc cát,

Nào dè phủi nợ xuống tuyền-đài,

Dưỡng sinh cam lỗi tình sông núi,

Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai.

Dồn dập tương-tư hoằng một gánh,

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai.

Ký tên  :  Đoàn-Ngọc-Quế

Cũng trong đêm nầy chúng tôi hỏi cô Đoàn-Ngọc-Quế đau bịnh chi mà thác, cô cho hai bài thi tiếp theo

Trời già đành đoạn nợ ba sinh,

Bèo nước xẻ hai một gánh tình,

Mấy bữa nhăn mày lăm chước quỉ,

Khiến ôm mối thảm lại diêm-đình.

 

Người thời Ngọc-Mã với Kim-Đàng,

Quên kẻ dạ đài mối thảm mang.

Mình dặn lấy mình, mình lại biết,

Mặc ai chung hưởng phận cao-sang.

 

Ba anh em tôi họa bài thi bát-cú của Đoàn-Ngọc-Quế dưới :

 

Họa Vận

Ngẫn bút hòa-thi tũi-phận ai,

Trời xanh vội lấp nữ anh tài.

Tình thâm một gánh còn dương thế,

Oan nặng ngàn thu xuống dạ đài.

Để thảm Xuân-Đường như ác xế,

Gieo thương lữ khách ngóng tin mai.

Hềm gì chưa rõ đầu đuôi thế,

Ngẫn bút hòa-thi  tũi-phận ai.

Phạm-Công-Tắc

 

Họa Nguyên Vận

Rằng Liễu khóc Oanh có mấy ai,

Mộ người quốc-sắc đấng thiên-Tài.

Nhìn văn độ phẩm hàng khuê cát,

Xót bạn tri-âm cõi dạ đài.

Ngàn dậm hoa trôi sầu cụm trước,

Mộ mồ cỏ loán ủ nhành-mai.

Cửu-tuyền hồn Quế linh xin chứng,

Rằng Liễu khóc Oanh có mấy ai.

Cao-Quỳnh-Cư

 

Họa Vận

Nửa chừng xuân gẫy tũi thân ai,

Nông nỗi nghĩ thôi tiếc bấy tài.

Ngọc thốt dám bì trang tuấn-kiệt,

Vàng rơi riêng chạnh khách chương-đài.

Những ngờ duyên thắm trao phòng bích,

Hay nỗi xương tàn xủ giậu mai.

Một giải đồng tâm bao thuở nối,

Nửa chừng xuân gẫy tũi thân ai.

Cao-Hoài-Sang

Tôi hỏi Đoàn-Ngọc-Quế hồi còn tại thế xứ ở đâu ?

-  Đáp  . . . . . .  ở Chợ-Lớn.

-  Hỏi  . . . . . .  Cô học ở đâu  ?

-  Đáp . . . . . .  Học trường Đầm.

Bữa sau tôi mời ông Phạm-Công-Tắc và ông Cao-Hoài-Sang ra nhà tôi xây bàn (xây ghế) đặng mời Đoàn-Ngọc-Quế về dạy làm thi. Anh em tôi cứ hỏi cô Đoàn-Ngọc-Quế những việc thượng-giới thì cô cũng khứng giải cho hiểu việc thiên-cơ chút ít, nhờ cô Đoàn dùng huyền-diệu độ ba anh em tôi, và bố trí cho ba anh em tôi ham việc thiên-cơ hơn trần-thế.

 

Ban ngày làm việc, ba anh em tôi trông mau tối đặng thỉnh bàn ra trước hàng ba, tắt đèn điện phía trước đặng cầu hỏi cô Đoàn những việc cõi trên, mà mỗi đêm mỗi cầu cô về giải nghĩa mấy bài thi. Khi thì cô giáng, có bữa các đấng giáng.(xin xem tới mấy trương sau, có mấy bài thi của quí cô, và các đấng cho, mà có giải nghĩa và dạy nhiều điển-tích rất cao-siêu nhiệm-mầu).

 

Đoàn-Ngọc-Quế gọi tôi là anh cả, kêu ông Phạm-Công-Tắc là nhị ca, kêu ông Cao-Hoài-Sang là tam ca, cô để cô là em thứ tư (tứ muội)

 

Tôi tìm hiểu ý tứ bài thi của cô Đoàn-Ngọc-Quế lạ thường hay lắm thật là tuyệt bút.

 

Tôi nhớ lại hạ tuần tháng 7 năm Ất-Ssửu (1925) ba anh em tôi thỉnh bàn ra (lúc nầy hơi in say đạo) tính xây bàn cầu cô Đoàn về dạy học văn thi, ba anh em tôi để tay thì dở bàn lên bỗng có một ông giáng, tôi hỏi tên gì  ? thật rất lạ . . . xưng là A.Ă.Â. (Đức CHÍ-TÔN đến xưng là A.Ă.Â).

 

Gõ làm một bài thi dưới đây :

THI

Ớt cay cay ớt gẫm mà cay

Muối mặn ba năm muối mặn dai.

Túng lúi đi chơi nên tấp lại,

Ăn bòn chẳng chịu tấp theo ai.

Ông Phạm-Công-Tắc nghe dứt câu liền nói với tôi rằng : thôi anh, ai đâu mà nói tiếng gì khó nghe quá, sao lại không có tên xưng là A.Ă.Â.  . . .  ?

 

Tôi nói với ông Phạm-Công-Tắc : ậy, em ngồi lại cho qua hỏi, vị nầy không phải tầm thường đâu em.

-  Tôi hỏi ông A.Ă. mấy chục tuổi ?

- Ông A.Ă. gõ bàn, tôi đếm hoài không ngừng, tôi cứ đếm đến mấy trăm cái mà cũng không thôi, liền đó tôi ngưng lại không dám hỏi nữa, nên tôi kiếm hiểu ông nầy ở trển chắc lớn lắm.

Từ đó về sau có vị nào giáng cho thi, thì tôi cầu ông A.ĂÂ. xin ông giải nghĩa.

 

Tích hội-yến diêu-trì

 

Lối cuối tháng 7 năm Ất-sửu (1925), ba anh em tôi hỏi cô Đoàn-Ngọc-Quế rằng : em còn có chị em nào nữa biết làm thi em mời dùm, nói ba anh em qua có lòng ngưỡng mộ học làm thi, xin cầu khuẩn quí cô đến dạy ba anh em tôi làm thi. Cô Đoàn-Ngọc-Quế trả lời : có chị Hớn-Liên-Bạch là Lục-nương với Nhứt-Nương làm thi hay lắm.

 

Ba anh em tôi rất mừng nên tính mời quí cô thỉnh ngày rằm Trung-Thu, vì là ngày tiết trăng thanh gió mát, ngày đó ai cũng thích đi ngoạn cảnh ngắm trăng (chưng cộ đèn).

 

Cô Đoàn-Ngọc-Quế dạy ba anh em tôi rằng : ba anh muốn cầu thì ngày đó ba anh phải ăn chay, cầu mới được (ba anh em tôi vâng lịnh cô Đoàn, ngày cầu chúng tôi ăn chay).

 

Ngày qua tháng lại tới ngày rằm tháng 8 năm Ất-sửu (D.L 01 - Septembre 1925).

 

Ngày rằm lập hương án chưng những hoa thơm xông trầm trọn ngày, nhà tôi (1) không tiếp khách ai hết. Ba anh em tôi vọng bàn cầu khuẩn thấp hương thơm từ 10 giờ đêm tới giờ Tý, xông trầm hương thành tâm cầu quý cô lối 5 phút thì có bốn cô giáng cho một bài thơ dưới đây :

THI

Im lìm cây cỏ vẫn in màu,

Mờ mệt vườn xuân điểm sắc thu.

Gió vậy xao trời mây cuốn ngọc ;

Sương lòng ướt đất liễu đeo châu.

Ngựa vàng ruổi vó thoi đưa sáng,

Thỏ ngọc trau gương dậm vẽ làu.

Non nước đìu hiu xuân vắng chúa ;

Nhìn quê cảnh úa giục cơn sầu.

Lục Nương

(Mối ăn hết 3 bài thi)

(1)  Ở đường Bourdais 134 SaiGon.

Ít bữa sau ba anh em tôi cầu ông A.Ă. giải nghĩa câu thi của Lục-Nương câu thứ 5 và câu thứ 6 :

"Ngựa vàng ruổi vó thoi đưa sáng,

Thỏ ngọc trau gương dậm vẽ làu."

A.Ă.Â.   -   Trường quang ánh sáng mặt trời.

Kim-Mã Ngọc-Thố

Kim Mã     : Ngựa vàng là Mặt Trời

Ngọc-Thố  : Thỏ ngọc là Mặt Trăng.

 Thi văn lựa hai thú ấy mà chỉ Mặt Trời và Mặt Trăng ; vì hai thú ấy chạy mau, con nầy rượt con kia, hết ngày tới đêm hết đêm tới ngày, chỉ là ngày giờ qua mau rất lẹ.

 

Thi văn cũng dùng Kim Mã quá song ngày giờ qua rất mau lẹ.

 

Rút bài thuyết đạo của đức hộ-pháp tại  đền thánh Ngày 15-8 Kỷ-sửu, do kỷ niệm vọng thiên cầu đạo Ngày 27-10 Ất-sửu thể theo thánh-lịnh của Đức Phật-Mẫu.

 

Lễ hội-yến Diêu-Trì Kim-Mẫu

 

Hôm nay là ngày lễ kỷ-niệm Bí-Pháp, Bí-Pháp Hội-Yến Diêu-Trì, Đức Chí-Tôn đã lập trong nền chơn giáo của Ngài, Bần-Đạo thừa dịp nên thuyết minh cho toàn cả con cái Đức Chí-Tôn hiểu rõ cái huyền vi bí mật ấy, bởi có ảnh hưởng với cơ quan đoạt Đạo chúng ta tại mặt thế gian nầy. Hơn nữa Bần-Đạo có phương tiện tỏ rõ một đức tin dị-thường của một Đấng yêu ái, một Đấng tạo càn-khôn võ-trụ, Đấng tự hữu hằng hữu, Đấng quyền năng vô tận vô biên, cốt để cho con cái của Ngài thấu đáo cái tâm tình của Ngài đối với ta và ta đối với Ngài dường nào.

 

Đoạt đặng đức tin phi thường ấy, năm Ất-sửu tức nhiên năm 1925 Đức Chí-Tôn đến với chúng ta, nhưng Ngài đến với một tình bạn mà thôi, đến với một danh hiệu, giờ phút nầy Bần-Đạo không dám nói, Ngài đến cũng làm bạn Thượng-Phẩm và Hộ-Pháp, tháng 6 năm ấy Ngài dùng cơ bút huyền diệu của Ngài, Ngài dạy vọng Thiên-bàn cầu Đạo (điều mà chúng ta không thể tưởng tượng đây là một cử chỉ) ai cũng lấy làm lạ, nhiều người muốn tầm Đạo phải để một dấu hỏi, hỏi tại sao buổi ấy Thượng-Phẩm và Hộ-Pháp có một đức tin vững vàng nghe theo lời Ngài vọng Thiên-bàn cầu Đạo. Điều mà chúng ta không thể tưởng tượng, đây là một cử chỉ chung chớ không phải cá nhân Thượng-Phẩm hay Hộ-Pháp mà lời huấn-giáo của Ngài cốt yếu để cho toàn thể nhơn loại nơi mặt địa cầu nầy nhứt hơn hết là nòi giống Việt-Nam chúng ta.

 

Bần-Đạo nói đây : còn có bà nữ Chánh Phối Sư Hương-Hiếu là người bạn Cao-Thượng-Phẩm và Bần-Đạo buổi ban sơ thấu hiểu điều ấy, Ngài đến với một tình cảm đáo để, một đức tin vững vàng làm sao đâu ! không thể sợ đặng, không còn biết vị kỷ nhục nhã chi hết, giữa khoản đường nơi châu-thành Sài-Gòn thiên hạ tấp nập, mà Đức Chí-Tôn buộc phải quì ngoài đường dựa bên lề ấy, quì đặng cầu nguyện xin Đạo cho chúng sanh, tội nghiệp thay ! ! ! Ngài thử thách cho đến nước, thoản như mình quì đó mà thiên-hạ không hiểu mình quì làm gì thì cũng ít mắc cỡ chút mà cũng có thể quì, còn làm mà người biết thì nhột nhạt khó chịu lắm, nhung sợ Đức Chí-Tôn phải rán mà làm.

 

Ngoài ra có ông bạn ai cũng điều biết danh của người là nhà thi-sĩ danh tiếng, Bần-Đạo dám chắc nội trong Nam bộ chúng ta đây chưa có ai bằng, nổi danh thi sĩ đứng đầu hết thãy là người ấy, không biết chứng cớ gì mà người mê thi phú của Đức Chí-Tôn quá chừng quá đỗi, đến mức người thuộc lòng thi phú của Đức Chí-Tôn, rồi người họa lại với Đức Chí-Tôn, người làm như mê mang vậy. Bần-Đạo thì nhột-nhạt, duy có sợ mà vâng mạng lịnh thi hành quyền gíáo hóa của Đức Chí-Tôn còn người thi-sĩ Bồng-Dinh họa theo đó mà ngâm, thiên hạ thấy tấn tuồng dị hộm tụ lại xem đông lắm. Trước để một cái bàn vọng Thiên cầu Đạo ngay Chính giữa coi bộ dị hộm lắm, Bần-Đạo mới gát hai tay cho đỡ mắt cỡ, vừa gát tay lên thì cái bàn quây gõ nói chuyện.

 

Các đấng Thiêng-liêng đến không biết bao nhiêu, đến các vị Giáo-chủ cũng xuống giảng dạy chúng ta và làm nhiều kiểu lạ lắm ; cũng lúc nầy Đức Chí-Tôn đã giáo hóa khá lâu, các đấng thiêng-liêng cũng đến cùng Thượng-Phẩm và Hộ-Pháp, tuy mới mà có đủ đầu óc, có một đức tin vững vàng, đức tin ấy có thể nói rằng : tuy buổi ban sơ mà dường như khói óc đã thâm hiểu nhiều rồi, nên Đức Chí-Tôn mới ra lệnh biểu làm một cái tiệc. Ngài dạy sấp đặt cái tiệc ấy để đãi các đấng vô-hình ; đãi mười người : Đức Phật-Mẫu và cửu-vị tiên-nương, phần hữu hình có ba người : Thượng-Sanh, Thượng-Phẩm, và Hộ-Pháp. Sấp tiệc ấy do tay bà nữ Chánh-Phối-Sư Hương-Hiếu vâng mạng lịnh tạo thành một tiệc, trên bàn thờ Phật-Mẫu, ở dưới sắp 9 cái ghế cũng như có người ngồi vậy. Chén, đũa, muỗng, dĩa, bất kỳ cái gì cũng giống như đãi người hữu hình vậy ; duy có ba người xác thịt là Thượng-Sanh, Thượng-Phẩm, Hộ-Pháp. Bần-Đạo mới hỏi tiệc nầy là tiệc gì ? Ngài nói là hội-yến diêu-trì, Bần-Đạo nghe nói vậy thì hay vậy chớ không biết giá trị Hội-Yến là gì cả. Nghĩ chắc cũng có ảnh-hưởng gì cần yếu đến tương-lai của Đạo  mà vâng lịnh thôi. Chớ không hiểu nghĩa lý cho cùng cạn gì hết.

 

Ba người sống đồng ngồi ăn, còn bà Chánh-Phối-Sư Hương-Hiếu gắp đồ ăn để vào chén cho Chín vị và trên bàn-thờ cho Đức Phật-Mẫu cũng như người sống kia vậy.

 

Bần-Đạo còn nhớ một chuyện lạ lùng, lúc đó lấy làm kỳ quái không hiểu gì hết, giờ biết Đạo mới hiểu Đức Chí-Tôn buổi nọ lấy một tên riêng đối với Bần-Đạo, bây giờ Bần-Đạo không dám nói lại, Ngài đến làm bạn cùng Thượng-Phẩm và Hộ-Pháp.

 

Chừng Hội-Yến Diêu-Trì rồi các đấng Thiêng-liêng và các vị Giáo-chủ ra từ giã (thăng), kế Đức Chí-Tôn đến nhập cơ, Thượng-Phẩm và Bần-Đạo tọc mạch hỏi : khi nãy Diêu-Trì Cung đến có Ngài đến ở đó không ? Có chớ, Chính mình ta tiếp đãi ! Cao-Thượng-Phẩm hỏi : Diêu-Trì-Cung ngó thấy Ngài không ? Không ngó thấy, Cao-Thượng-Phẩm hỏi : sao vậy ? Ngài trả lời : Ngài dùng phép ẩn thân.

 

Bần-Đạo tọc mạch hỏi tiếp : như đứa em của tôi là Thất-Nương Diêu-Trì có thể đoạt đặng chăng ? đoạt đặng chớ ; Cao-Thượng-Phẩm hỏi : Phải làm sao ? Ngài nói : phải tu, bằng không tu thì chẳng đoạt đặng. Bần-Đạo hỏi : tu chừng bao lâu mới đoạt đặng ? cái đó Ngài làm thinh. Bần-Đạo hỏi : một năm, 5 năm, một ngàn năm, mười ngàn năm, một trăm ngàn năm, Ngài cũng làm thinh, rồi thôi không hơi sức nào hỏi nữa, không biết chừng nào mới đoạt đặng, nghe vậy hay vậy. Các vị nữ-phái rán nhớ, Diêu-Trì-Cung, Bần-Đạo có giải nghĩa Hội-Yến Diêu-Trì là gì rồi đó.

 

Toàn Thánh-Thể Đức Chí-Tôn là con cái của Ngài rán để ý cho lắm : Từ khi Đạo bị bế Ngọc-Hư-Cung bác luật, Cực-Lạc Thế-Giới thì đóng cửa nên chúng sanh toàn cả càn-khôn võ-trụ có tu mà thành thì rất ít, bởi phương-pháp khó khăn lắm, muốn đoạt pháp thì không phải dễ. Cổ-pháp định cho các chơn-hồn về nơi Diêu-Trì-Cung hưởng dược Hội-Yến Bàn-Đào tức nhiên hưởng được Hội-Yến Diêu-Trì, ăn được quả Đào-tiên, uống được Tiên-tửu mới nhập vô cảnh Thiêng-Liêng Hằng-Sống gọi là nhập tịch. Ôi thôi ! từ thử đến giờ có ai đặng hưởng, nếu có đặng hưởng cũng có một phần rất ít.

 

Giờ phút nầy Đức Chí-Tôn quyết định tận độ con cái của Ngài, thay vì Bí-Pháp ấy độ con cái của Ngài về nơi Kim-Bàn Phật-Mẫu đặng hưởng đặc ân thiêng-liêng của Đức Chí-Tôn.

 

Đức Chí-Tôn buộc Phật-Mẫu phải đến tại thế gian nầy để Bí-Pháp Hội-Yến Diêu-Trì tại cửa Đạo nầy cho con cái của Ngài giải thoát, ấy là một Bí-Pháp thiêng-liêng duy có tay Ngài định pháp ấy mới đặng.

 

Hôm nay là ngày Phật-Mẫu đem Bí-Pháp đặng giải thoát chúng sanh, tận độ toàn vạn-linh sanh chúng, Ngài để tại mặt thế nầy trong cửa Đạo nầy mà thôi.

 

Hôm nay ngày Lễ của Ngài mà cũng là ngày trọng hệ trong cửa Đạo ; xin toàn cả con cái của Ngài nhớ và để nơi tâm mình, bởi thế năm nào Bần-Đạo cũng để ý đến Lễ của Ngài hơn hết ; từ tạo thiên lập địa đến giờ chưa có ai hưởng được thời kỳ nầy, Ngài đến tại mặt địa cầu 68 nầy đặng tận độ con cái của Ngài.

 

Chúng ta phải chiêm ngưỡng ơn vô biên vô tận của Ngài, chúng ta phải chiêm nghiệm lễ nầy để làm mật niệm cám ơn Đức Chí-Tôn và Phật-Mẫu ấy là Bí-Pháp của chúng ta đó vậy.

 

Có ngày đó ông Cao-Hoài-Sang ra đề tiễn-biệt tình-lang (ý ông Cao-Hoài-Sang ra đề đặng thử ). Ngày 5 tháng 8 Ất-sửu (thứ bảy 22-8-1925), thì có bà Bát-Nương giáng làm bài thi đề tiễn-biệt tình lang dưới đây :

THI

Chia gương căn-dặn buổi trường-đình,

Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.

Bước rẽ ngùi trông cơn ác xế,

Lời trao buồn nhớ lối trăng-thinh.

Ngày chờ mây án ngàn dâu khuất,

Đêm bặt đèn khuya một bóng nhìn.

Lần lựa cô-phòng xuân thỏn-mỏn,

Xa xôi ai thấu nỗi đinh-ninh.

Cách đôi ba bữa sau nhằm mùng 5 tháng 8 Ất-sửu (22-8-1925) có Quí-Cao giáng hòa nguyên-vận bài thi Bát-Nương :

Ình ình trống giục thảm trường đình

Đau nỗi chia phui một chữ tình.

Hồng-nhạn đưa tin trông vắng dạng,

Phụng-lầu gác quyển đợi hòa-thinh

Vừng trăng sẽ nửa lưng tròng ngó

Một mảnh gương trao biếng mắt nhìn

Kẻ ở phương trời người góc biển

Lòng thành nhắn gởi chữ khương-ninh.

Quí-Cao

 

(Le 25 Aout 1925) Ngày 8 tháng 8 Ất-sửu

Thần-Sơn-Quan Diệu-Võ Tiên-Ông

1. - Âm-dương tuy cách cũng Trời chung

Thấy trái nên đây mới tỏ cùng

Thắc dạ thuyền xưa không đậu bến

Đau lòng hạc cũ chẳng về tùng.

Cúi đầu đành chịu thân trăm tuổi,

Ngước mặt ngơ trông bặt Chín từng,

Mạnh yếu há ngồi cam chịu vậy.

Hay chi cá chậu với chim lòng.

 

2. - Chim lòng bao thuở lại non xanh,

Ngóng mắt trông vơi chốn thoát mình.

Dựng nước chẳng ai tài tướng lược,

Liều mình thiếu kẻ đáng hùng anh.

Vầy thuyền chi sợ cơn giông-tố,

Hiệp-chủng còn hơn cuộc chiến-tranh.

Thình dạ chờ châu về hiệp phố,

Nơi mình sự nghiệp mới tan tành.

 

3. - Tan-tành nhớ đến gánh giang-san,

Lòn cúi thương dân lắm buộc ràng.

Phú quí mồi câu con hạc lánh,

Đỉnh chung gió thổi đám mây tàn.

Đợi thời toan mượn cần-câu-Lữ,

Dựng nghiệp tua chờ mặt lưới Thang.

Ly-loạn gặp thời đời muốn chán,

Công danh phủi sạch hưởng thanh-nhàn.

 

4. - Thanh nhàn ngày tháng lại Tiên-gia,

Trị-loạn hằng xem thế nước nhà.

Bễ hoạn dập dồi thương bầy trẻ,

Thành sầu chất chứa cam cho già.

Bạc đầu non chịu lằn sương nhuộm,

Nhăn mặt nước chờ trận gió qua.

Thân ái mối giây tua nắm chặt,

Chít-chiu ấy cũng một bầy gà.

 

5. - Bầy gà mất mẹ kiếm bơ-vơ,

Yếu đuối biết ai để cậy nhờ.

Nắng hạn trông mưa trông mắt mỏi

Đắng cai mộ nước một lòng chờ.

Ngoài khua tiếng giặc trong khua nịnh,

Võ thiếu binh nhung quốc thiếu cờ.

Trí chúa tôi hiền không gặp chúa,

Nào người gánh nỗi mối xa-thơ.

 

6. - Xa thơ hầu ngã nước nhà nghiêng,

Ai giữ phong cương đặng vững bền.

Đấp lũy Cổ-Loa chưa mấy mặt,

Lấp Hồ Hoàn-Kiếm bấy nhiêu tên.

Thăng-Long bao thuở nâng hùng khí,

Gia-Định tự nhiên chấp ấn quyền.

Sông núi dật-dờ chờ tạo khách,

Hóa-công nên núi Đạo nên thiền.

 

7. - Nên thiền khi trước lập nên danh,

Chín bệ xem qua chẳng trí quân.

Ích nước xủ tay khoe đẹp áo,

Lợi nhà vỗ bụng dưỡng tròn thân.

Nam-Giao vắng vẻ đường cung-kiếm,

Văn-Hiến khô-khan ngọn bút thần.

Danh-vọng ru hồn quên thổ-võ,

Thẹn nòi bọc lại mộ đai-cân.

 

8. - Đai-cân đã có vẽ chi chưa,

Hay phận từ-lao kiếp sống thừa.

Dập đất gập ghình chôn trẻ dạy,

Ngừa thời điên đảo trí già xưa.

Ngồi hang thương kẻ mang da chó,

Ngự điện ghét quân đội lốt lừa.

Cái nhục giống nòi kia chẳng rửa,

Xoi hang mạch nước ý chưa vừa.

 

9. - Chưa vừa mộng mị với tây tà,

Dụ xác vong hồn dựa phách ma.

Tiêu hủy thân cây lần lửa táp,

Tan tành hình nộm trận giong qua.

Rước voi phá mã đào lăng-miếu,

Thả rắn xua ong nhiểu điện-tà,

Đổ lụy hỏi người sao chẳng nhớ,

Ngọn rau tấc đất nước nhà ta.

 

10. - Nước nhà ta có tiếng anh-phong,

Vẽ đẹp trời đông sắc Lạc-hồng.

Nam-Hải trổ nhiều tay Thánh-Đức,

Giao-Châu sanh lắm mặt anh hùng.

Tinh-trung lửa thét thành Bình-Định.

Khí-liệt gươm đề tỉnh Quảng-Đông.

Văn-Hiến bốn ngàn năm có sẵn,

Chi-cần vị-chủng đến dâng công.

 

Ngày 14 tháng 8 Ất-Sửu (31 Aout 1925)

Nhàn-Âm  Đạo Trưởng

THI

Rừng tòng ngày tháng thú quen chừng,

Nhướng mắt dòm coi thế chuyển luân.

Rượu-cúc một bầu trăng gió hứng,

Non sông dạo khắp lối đêm xuân.

Cao - Xuân - Lộc

Giáng hòa nguyên vận bài thơ trên :

Sống thác từ xưa đã có chừng,

Nơi trần mãn tính trọn nhơn luân.

Đò đưa phút chịu vùi ba tấc,

Tay trắng phủi rồi một tuổi xuân.

 

 

Ngày 15 tháng 8 Ất-Sửu (01 - 9 - 1925)

Cao - Quỳnh - Cư

 

Hòa nguyên vận hai bài thơ trên :

Cõi thọ là đâu khó độ chừng,

Ẩn tàng lội-lạc bậc kinh-luân.

Buổi già ước đặng đem thân gởi,

Biển-Thánh rán dò lúc tuổi xuân.

 

Lục-nương làm thi hai câu, còn sáu câu nhượng cho ba anh em tôi làm :

Lục-Nương : Trót đã đa mang cái nợ đời,

Gánh đời nặng lắm khách đời ôi !

Cao-Quỳnh-Cư : Oằn vai thần Đạo non sông vác,

Chịu kiếp trần ai vó bụi vùi.

Phạm-Công-Tắc : Thương-hải tang-điền xem lắm lúc,

Công-danh phú quí nhắm trò chơi.

Cao-Hoài-Sang :  Ở đời mới hẳn rằng đời khó,

Khó một đôi năm dễ khó đời.

Lục-Nương : Ở thế sao chê tiếng thế buồn,

Buồn vui hai lẽ lấy chi đong.

Cao-Quỳnh-Cư : Cân đai tuế nguyệt trêu hồn bướm,

Tên tuổi phong ba lắm bụi hồng.

Phạm-Công-Tắc : Chiếc bách dập dồn dòng bích thủy,

Phồn hoa mờ mệt giấc huỳnh-lương.

Cao-Hoài-Sang : Bờ dương chừ đặng phong trần rảnh,

Quảy gánh thơ đờn dạo bốn phương.

Thất Nương : Lừa dịp đình chơn viếng cố nhân,

Cảm tình trông đợi dạ ân cần.

Chầy ngày tuy chẳng thăm nhau đặng,

Mà tấm lòng kia vẫn luống gần.

Ngày 22 - 8 - Ất-sửu (8-9-1925)

Độ tháng 9 năm Ất-sửu, ông A.Ă.Â. giáng hỏi với ba ông như vầy :

 

Tôi nói lộ Thiên cơ, trên Ngọc-Hư-Cung bắt tội, xin tam vị Đạo hữu cầu trên Ngọc-Hư-Cung tha tội, nếu không lo cầu dùm thì tôi sẽ bị phạt. Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh rất lo lắng. Ba ông vọng bàn hương án cầu Diêu-Trì-Cung ; Đức Cao-Thượng-Phẩm có đặt một bài thi rồi đọc trước bàn hương án như vầy (1)  :

Vái van xin với Cửu-Thiên-Nương,

Tâu với Ngọc-Hư tỏ ngọn nguồn.

Vì-Nghĩa H...Đ... mang trọng tội,

Nghĩ tình đồng Đạo để tình thương.

 

20 - 10 - 1925

Mồng 3 tháng 9 Ất-sửu.

 

Ngày 25 tháng 9 Ất-sửu (18 - Octobre 1925), có ông Thổ-Địa Tài-Thần, giáng gõ bàn cho bài thi. Tôi rút hai câu của Thổ-Địa Tài-Thần, cầu A.Ă.Â. giải nghĩa cho hiểu.

" Người trước nghĩ thương cơn tuyết nhuộm ;

Lũ sau buồn chạnh nỗi sương pha. "

A.Ă.Â. giải nghĩa : (ông A.Ă.Â. giải nghĩa cao kỳ lắm)

Có câu : Mã bì tuyết thể, nghĩa là da ngựa tuyết thân ; Chính là trang tài tướng chinh chiến một mình, da ngựa bọc thân tuyết sương đấp thể. Tỏ là đời ly loạn, có câu tục ngữ nói : gối vác nằm sương, chỉ là thân chịu nhọc nhằn cực khổ. Câu thi trên mà sửa lại như vầy thì nhằm điển văn hơn.

 

A.Ă.Â. sửa lại hai câu của Thổ-Địa Tài-Thần :

" Thân trẻ phải cơn sương gối ước,

Thương già gặp buổi tuyết thân pha.

Tuyết thân pha : Pha nghĩa là hòa lộn, chịu lạnh lùng đến đổi thân với tuyết cũng lạnh như nhau.

 

(1)   Xem huyền diệu ông A.Ă,Â. cũng là Thiêng-Liêng thử 3 ông coi có thương ông A.Ă.Â. không.