Caodai.net (lịch sử đạo Cao Đài)

Đạo mạch truy nguyên (phần 1)


Lưu ý : Bạn đọc có thể tải toàn bộ về máy nhà qua đường dẫn dưới đây :


Đạo mạch truy nguyên và Phu thê yếu luận

tác giả : Huệ Chương


ImageI. ĐẠO MẠCH TRUY NGUYÊN


Tôi vẫn sanh trưởng nơi tỉnh thành Bến-Tre, biệt-danh là Huệ-Chương, theo ông thân tôi, vốn người giúp việc hảng buôn, chuyên nghề rèn tập theo lối văn-chương Âu, từ ấu chí trưởng.


Cả bạn tác, học một trường với tôi, thì tôi duy có gần-gũi M. Đức, vốn con nhà Cao-Quỳnh, lại là người có tâm chí rất hạp với tôi.


Từ buổi ra trường đến nay, tuy mỗi đứa vì ràng buộc theo phận sự gia-đình riêng, song cũng hằng tới lui thăm viếng, và lo-lắng cho nhau, chẳng khác tình ruột thịt.

 

Một ngày kia, tôi vẫn nghe thiên-hạ kích-bác về Đại-Đạo Tam-Kỳ, lại có tên ông thân, và chú ruột của ảnh, thì tôi lấy làm chưng hửng. Tuy là tôi hay đến nhà chơi với ảnh, thường cũng hay thấy mấy ông lớn hiệp nhau bàn luận việc Đạo; nhưng vì tánh tôi còn ham chơi, nên không hề để ý đến. Nay nghe vậy, tôi lật-đật đến hỏi thăm ảnh cho rõ.


Vừa gặp nhau, tôi chưa đặng cạn hỏi, thì ảnh đã vổ vai tôi mà nói rằng: "Hơi nào mà anh nghe thiên-hạ! Họ có hiểu cái nguồn-cội của Đại-Đạo là nơi nào mà ra đâu; bị họ luống tưởng mấy ổng bày ra, mà gạt chúng. Anh nghĩ coi, như có gạt-gẫm, thì năm ba chục người, cũng còn có thể nói đến chuyện lầm-lạc, lẽ đâu trót triệu nhân-sanh như vậy, lại trong số triệu ấy, cũng hiếm người phẩm-vị cao, trí-thức nhiều mà cũng mắc kế mấy ổng nữa sao!"


Để tôi thuật sơ đầu đuôi gốc ngọn lại cho anh nghe, rồi cứ suy nghĩ riêng lấy mà kiếm hiểu.


Anh em mình vẫn ý-kiến tương đồng, kết bạn với nhau trót mươi năm, tình như máu thịt, thường hay bàn luận; khi thì về học-thức, mà cũng có lối; nói đến tình đời, cho đến việc nhà của nhau, cũng đều thấu hết.


Anh dư biết tánh tình của tôi; tuy hay vui chơi, theo cuộc hí-trường, song cũng hằng để ý, kiếm cho hiểu biết luân-thường Đạo-lý. Tôi dòm quanh theo cô bác lối xóm-giềng, hằng thấy mỗi nhà đều chưng dọn bàn thờ; việc đẹp chăng, là tùy gia vô hữu, nhưng cũng có lập ra luôn, hoặc thờ ông bà, hay là cha mẹ. Về nhà, thấy ông thân tôi chẳng hề để ý đến đó, tôi hỏi ổng, ổng trả lời rằng:


"Thầy nay tuổi đã bốn mươi ngoài, cũng hằng tìm tòi cho biết những điều ấy, nhưng chưa hề thấy việc nào là ắt. Nếu sự chi mà thầy chưa rõ thấu, thì thà là đừng làm, còn hay hơn là bắt chước người mà không hiểu chi cả.


Thầy duy tưởng rằng, có một Đấng Tạo-Hóa Càn-Khôn, nhưng chẳng hề thấy hình ảnh đặng, thì cung kỉnh Ngài mà thôi. Còn những việc theo thế tình hoặc thờ cha kính mẹ, thì nơi lòng, dầu cho mất còn cũng vậy. Mỗi khi cúng cơm cho ông bà, là buộc ý thầy, làm theo cổ lệ, nếu không ngơ, lại buồn lòng. Còn bày biện bàn thờ như người, thì thầy nghĩ ra, một việc làm không ắt, thế cũng không tổn phí mà chi; miễn bổn phận người, làm sao cho khỏi trái lương tâm mình, là hơn hết".


Nghe ông thân tôi nói vậy, thì đã biết ông không tín-ngưỡng chi hết, nhưng ông cũng hằng giữ phận làm người, thì đã đành. Tôi lại cắc-cớ hỏi chú ruột tôi là ông Cao-Quỳnh-Cư, té ra hai ông như một. Thậm chí, đến đỗi tôi tức mình hỏi cô bác, những nhà có thờ phượng, thì không một ai, trả lời nào, cho vừa lổ tai tôi cả.


Một ngày kia, lối hạ tuần tháng Juillet 1925, nhằm đêm thứ sáu, tôi thấy nào là chú tư tôi, chú tám tôi, là M. Phạm-Công-Tắc, anh con nhà bác họ của tôi là M. Cao-Hoài-Sang, và vài người bạn nữa, đến mời ông thân tôi đi chơi. Tôi hỏi M. Sang cho biết mấy ổng đi đâu, thì ảnh lại nói với tôi rằng:


- Đi sai bàn.
- Sai bàn là chi?
- Là cầu các Linh-hồn, về nói chuyện chơi.


Nghe ảnh nói vậy, tôi lấy làm lạ, liền nom theo mấy ổng, đặng coi làm thế nào cho biết. Đoạn mấy ổng đều kêu xe kéo, vô nhà anh Cao-Hoài-Sang; rồi vầy nhau ngồi xung quanh một cái bàn tròn ba chưn, để nơi trước hàng ba, lại có chưng bình bông tươi tốt và đốt nhang, sắp đặt trên một cái bàn nhỏ, để dựa vách kế đó.


Tôi cũng ngồi kề bên ông thân tôi, chừng mấy ổng biểu: "Lẳng-lặng định thần" thì mỗi người đều để hai tay úp lên mặt bàn, tôi cứ việc làm theo.


Giây lâu, tôi thấy bàn nghiêng qua bên chú tư tôi, chú lại rầy chú tám Tắc, mà biểu đừng xô, cứ ngồi cho tịnh. Bàn lại ngã qua phía ông thân tôi, ông lại rầy nữa! Cách một chập, coi bộ mấy ổng mỏi tay, nên thảy đều tan ra nghỉ hết.


Tôi có ý coi, trong mấy ổng chưa ai thạo việc ấy cả, vì thấy cải lẫy nhau hoài; kẻ nói vầy người luận khác, phân phân bất nhứt.


Khi ấy, anh Cao-Hoài-Sang nói với mấy ổng rằng: "Mình cứ tịnh tâm, ngồi yêm điềm, chừng nào có vong nhập, thì chắc là họ gõ chơn bàn, nghe cắc cắc chớ gì". Nghe đến đó, tôi có hơi dùn mình, vì tánh tôi nhát.


Đến khi vầy nhau lại nữa, chú tư tôi ngồi xếp bằng trên ghế, tỏ ý rằng sợ hồn ma vào gõ bàn, mà đụng cẳng, nên cả thảy đều rút chơn lên, kẻ chồm hổm, người xếp bằng, té ra mấy ổng cũng không dạn gì cho mấy!


Lúc ấy đã khuya, coi ông nào cũng mệt, phần thì muỗi chích chơn, hễ thò tay xuống gãi, thì lại động, làm cho cái bàn không yên tịnh, lớp lại buồn ngủ. Chú tư tôi lại suy nghĩ, rồi luận rằng: "Thế khi chúng ta để trong nhà, nên các hồn ma không dám vào. Vậy khiêng bàn ra ngoài Trời trống trải, họa may họ mới nhập đặng". Đoạn mấy ổng hè-huội áp nhau khiêng bàn ra sân. Ngồi một hồi lâu, bàn cũng cứ dở lên để xuống, làm cho mấy ổng rầy nhau, rồi cười hoài. Gặp lúc khuya, trời tối, muỗi lại cắn hơn nữa! Mấy ổng chịu đà hết nỗi, mới đành dẹp nghỉ, nhưng hẹn tối mai, sẽ hiệp nhau, làm cho hết ý. Ai nấy đều vui chịu, liền từ giã nhau ra về.

 

Qua đến mai, gặp nhằm thứ bảy, lối chín giờ, thảy đều tựu đến đủ mặt, cũng sửa soạn như bữa trước, rồi vầy nhau lại ngồi chung quanh, để tay úp trên mặt bàn. Nhưng nay, chú tư tôi lại dặn, phải sè bàn tay ra, hai ngón tay cái của mỗi người đều đâu đầu lại rồi ngón tay út, của người khác, làm cho có thế, các bàn tay liền nhau trọn cái vòng bàn. Mấy ổng nghe theo. Tịnh một chập, bàn dở lên cao, ngã vào góc tường. Rủi cho chú tám tôi ngồi phía trong kẹt, làm cho chú tưởng rằng anh Cao-Hoài-Sang, đương ngồi ngang mặt, cố ý muốn cợt chơi, nên chú la um-sùm rằng:


- Sang! Sang! Đừng phá mầy, chơi giống gì kỳ quá, mắc kẹt tao sao mậy! Rán ngồi tử-tế coi mà!


Ai nấy thấy vậy, đều cười rộ lên, mặt bàn nghiêng lại như cũ. Chú tư tôi liền năn-nỉ với mấy ổng, xin đừng giỡn, để ý rán làm cho tận-tâm coi thế nào cho biết. Khi nghe chú tư tôi nói dứt lời, thì thảy đều ngồi lẳng-lặng. Chú tư tôi thường hay có tánh giả ngộ, hễ nghe bàn cục-kịch, lại trợn mắt, ngó mấy ông kia. Tôi dòm thấy, ai ai cũng sợ cả, lại áp nhau cười rộ lên nữa! Làm như vậy, đã trót vài giờ, mà bàn cũng cứ dở lên để xuống mãi; mà hễ thấy vậy, thì mấy ổng lại rầy nhau, tưởng rằng tại người xô mà thôi.


Chừng tịnh lần nầy, cả thảy ngồi im điềm; thoạt nhiên, bàn dở lên gõ lia gõ lịa. Mấy ổng cũng cho là nội bọn phá, bèn hỏi thăm nhau. Ai nấy đều tỏ rằng, cả thảy đều để thật lòng mà thử cho hết sức, nên không xô đẩy chi; ấy là bàn diêu-động tự nhiên. Khi đó, người thì nói tê tay, kẻ lại nghe rần điển. Trong cơn mấy ổng hỏi nhau, bàn dứt gõ, nhưng cũng còn linh-chinh, dường như có sự sống vậy. Chừng nghi rằng có vong nhập, thảy đều kinh tâm; mấy ổng lụi-đụi, không biết phương chi mà thông-đồng với vong đặng.


Chú tư tôi liền dặn mấy ổng để như cũ, đừng ai lấy tay ra khỏi bàn, mà làm xao động, e vì vong xuất ngoại. Dứt lời, chú tư tôi lại nói với vong rằng:


- Xin khoan đi, để cho hỏi ít lời... Bây giờ chưa kiếm đặng thế nào cho hiểu nhau, thì duy cứ gõ hai, nghĩa là: Ừ chịu, có hoặc phải (Oui).

Còn gõ một là: Không, hay là chẳng phải (Non).

Vong tiếp gõ hai: Tỏ rằng chịu theo lời dặn.

Đoạn chú tư tôi liền ngụ ý, rồi nói với vong như vầy: Ta hiểu theo đây, thì có thể nói chuyện với nhau tiện hơn. Nếu tôi hỏi chi, muốn trả lời lại, cứ tùy theo vần Alphabet quốc-ngữ mà gõ, mỗi chữ mỗi gõ, đến chữ nào dùng thì ngưng lại, nghĩa là lấy chữ chót; rồi bắt đầu trở lại mà nối chữ khác, xong rồi sẽ ráp lại mà đọc, giống như điệu dây thép vậy.

Vong liền gõ hai (Ừ chịu).

Hiểu nhau rồi, bàn gõ, chú tư tôi khởi đọc. Nhưng sự chi cũng vậy, lúc đầu sao cũng lộn-xộn năm bảy phen, đọc cho đến hết hai mươi mấy chữ vần, mà cũng còn gõ mãi. Tức mình, chú tư tôi cắt nghĩa lại một lần nữa. Thật lấy làm tội nghiệp cho vong quá, lại cũng thương cho mấy ổng, vì muốn thấu đáo, nên rán chịu khó đến cùng. May sao, lối mỏn hơi rồi, chú tư tôi đọc từ a, ă, â, b, c, d, đ ........... tới chữ L thì dứt gõ. Chú tư tôi dặn M. Cao-Hoài-Sang nhớ chữ ấy, đủ rồi sẽ chép lại. Đoạn bàn tiếp gõ quận thứ nhì. Chú tư tôi đọc a, ă, â, b, c, d, đ, ........... cho đến chữ Ư, bàn ngừng lại rồi cũng cứ nối điệu theo như trước, cho đến khi ráp đặng ba chữ: "Lượng-Cao-Quỳnh".


Khi tiếp đặng mấy chữ ấy rồi, thì mấy ổng hớn-hở vui cười. Dứt tiếng, chú tư tôi suy nghĩ rồi nói rằng: "Như phải là Cao-Quỳnh-Lượng, thì chắc biết mấy người ngồi đây; vậy cứ nói tên mỗi người coi có trúng chăng?"


Vừa dứt lời bàn gõ, chừng ráp nguyên chữ thì thành ra tên: Diêu, Cư, Tắc, Sang, Đức, Thân, Nguyên, thảy đều rộ cười lên, còn cái bàn thì hỏng lên một chưn, lắc qua, lắc lại, dường như cũng cười theo vậy.


Khi ấy, ông thân tôi tiếp hỏi Lượng rằng:

- Con có ở hầu ông Nội chăng?
- Có.
- Mời ông Nội đến đây, tiện không?
- Đặng.

Dứt lời, thì bàn dở lên rồi để xuống, không còn diêu-động như khi nãy nữa. Chú tám tôi nói rằng: "Bộ khi nó đi rồi". Nghe vậy, mấy ổng đều dang ra nghỉ hết. Chừng ấy, tôi có ý coi thì thấy ông nào ông nấy, cũng lấy làm lạ, mà nhứt là ông thân tôi, với chú tư tôi. Vì tự ấu chí trưởng, hai người không tin chi hết, cho kiếp chết là mất rồi, chẳng tin là có hồn. Nay lại thấy điều lạ kỳ như vậy, thì hai ổng ngồi nhìn nhau, tình hình như trời đã hé cửa cho mấy ổng dòm, thấy đặng sự bí-mật vậy.


Cách nửa giờ, vầy nhau ngồi, để tay lên, cũng tịnh như trước; kỳ nầy mấy ổng có màu kiêng dè, không dám cười giỡn nữa! Đoạn bàn gõ. Chú tư tôi tiếp đặng chữ, ráp lại như vầy: "Cao-Quỳnh-Tuân".


Ấy là tên của ông Nội tôi, cả thảy đều đứng dậy xá, rồi ngồi xuống. Ông thân tôi hỏi sơ ít điều đã qua rồi, kế chú tư tôi tiếp nói rằng: "Vì buổi thầy quá vãng, anh em con vẫn còn nhỏ dại, cho đến đỗi anh của con đã trộng, còn không nhớ đặng hình ảnh của thầy, huống chi là con còn nhỏ quá, duy buổi lớn khôn, nghe người truyền ngôn lại cái hạnh đức của thầy mà thôi. Nếu có thể tiện, xin thầy dùng dịp nầy, cho anh em con một bài thi tự thuật, hầu để roi truyền ngày sau, cho con cháu làm kỷ niệm". Ông nội tôi chịu cho, liền tiếp đánh ra bài thơ như vầy:

Ly trần tuổi đã quá năm mươi,
Mi mới vừa nên ước đặng mười.
Tổng mến lời khuyên bền mộ chép,
Tình thương câu dặn gắn tâm đời.
Bên màn đòi lúc trêu hồn phách,
Cõi thọ nhiều phen đặng thảnh thơi.
Xót nỗi vợ hiền còn lụm cụm,
Gặp nhau nhắn nhủ một đôi lời.

Khi làm đến câu chuyện, thì cả thảy đều nao lòng, rưng rưng nước mắt; chừng qua câu kết, thì ông thân tôi, chú tư tôi, và chú tám Tắc, vùng khóc lớn lên một lượt; còn mấy ông kia với anh Cao-Hoài-Sang thấy vậy cũng mủi lòng khóc theo. Lúc đó, đâu cũng hai giờ khuya, lối xóm nghe khóc rùm lên, vài nhà lân cận đến dòm, thấy việc kỳ quái quá, thì họ đứng coi một hồi, nhưng không hiểu chi, họ đều lui về nhà ngủ hết.


Dứt bài rồi, thì ông nội tôi tiếp mấy chữ: "Thầy xin kiếu", đoạn bàn dở lên cao, rồi để xuống nhẹ hểu, không còn hơi động địa như khi trước nữa. Mấy ổng nói: "Đi rồi, đi rồi". Khi ấy mấy ổng xúm nhau đem vô đèn, chép mỗi người một bài, coi đi đọc lại rồi trầm-trồ khen mãi. Thấy vậy, tôi cũng để chút lòng tin, song chưa hiểu rõ cái huyền-bí ấy là thế nào. Còn ông thân tôi, chú tư tôi cùng mấy ổng vầy nhau, bàn luận truy kiếm cho biết vì đâu mà hóa ra chuyện lạ ấy. Tôi có ý coi, ông nào cũng ngơ-ngơ, ngáo-ngáo, chớ tìm không ra mối.


Ai nấy đều lui về nghỉ, duy có ông thân tôi chẳng chịu về nhà. Ổng theo chú tư tôi, mà thức luôn trót đêm, cứ đọc đi đọc lại bài thi ấy lại hoài, rồi bàn bàn luận luận, suốt luôn cả ngày chúa nhựt nữa! Ngồi đâu cũng nói có bao nhiêu đó mà thôi. Thậm chí cho đến buổi cơm mà ổng cũng ở luôn, mà dùng với chú tư tôi. Hai ông ngồi phân phân với nhau, cho đến mệt lũi, rồi nằm dài trên ván, mà cũng còn nói nói. Riết cho đến khi ngủ mòm, hồi nào tôi không hay, chừng ngó lại, thấy đồng hồ gần bốn giờ xế chiều, tôi mới về nhà mà nghỉ.


Lật bật, kế bảy giờ tối, ông thân tôi về kêu tôi dậy, hối dọn cơm ăn, đặng hiệp nhau, đi vô anh Cao-Hoài-Sang nữa. Lần hồi, kẻ trước người sau, lối chín giờ rưởi, thảy đều đủ mặt; rồi thì cũng vầy nhau lại xung quanh cái bàn, đốt nhang lên. Đêm nay coi mòi mấy ổng sửa soạn đoan trang hơn bữa trước lắm.


Tôi cũng bước lại, ngồi kề bên ông thân tôi. Cách chẳng bao lâu, bàn dở lên đánh chữ, ráp vần lại như vầy: "Thác vì tình". Nghe đến đó, thảy đều rỡn ốc. Chú tư tôi bèn hỏi vong ấy tên chi? Đàn ông hay đàn bà? Trả lời rằng: "Đoàn-Ngọc-Quế, con gái".


Tên họ đều trùng, mà chữ lót cũng giống tên họ của một người bạn thiết với ông thân tôi, đương ngồi kề bên chú tám Tắc đó. Mấy ổng đều ngó M. Quế cười rộ lên. Đoạn chú tư tôi nói với vong ấy, xin một bài thi tự thuật.

Vong chịu, liền khởi đánh ra như vầy:

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai,
Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.
Những ngỡ trao duyên vào ngọc các,
Nào dè phủi nợ xuống tuyền đài.
Dưỡng sinh cam lỗi tình sông núi,
Tơ tóc thôi rồi nghĩa trước mai.
Dồn-dập tương-tư oằn một gánh,
Nỗi-niềm tâm-sự tỏ cùng ai.
Ký tên: Đoàn-Ngọc-Quế

Xong bài thi rồi thì mấy ổng trầm trồ, người cho rằng, câu văn thanh tao; kẻ nói trạng luận đối rất chỉnh. Nhưng vì nghi cho nàng ấy dối tên, nên chú tư tôi để lời mời nàng, năng đến chuyện vãn chơi cho thường, hầu hỏi cho biết rõ căn cội, nàng khứng chịu. Từ ấy, mỗi đêm đều qui tựu nơi nhà anh Cao-Hoài-Sang. Trót tuần lễ, khi thì ông thân của anh Cao-Hoài-Sang về, lúc thì chú ách Đồng, là anh ruột của chú tám tôi, về mà chuyện vãn. Mấy ổng hỏi nhiều việc đã qua rồi, các vong cũng đều trả lời trúng hết, nhưng tôi coi ý mấy ổng chưa có lòng tin cho lắm. Cả thảy đều cho là một việc chơi cho tiêu-khiển, nên mỗi đêm mấy ổng đều có tựu nhau, vui chơi bao nhiêu đó thôi. Lâu ngày, vì thức quá mà mỏn lần hồi, rốt lại còn có sáu người là: ông thân tôi, chú tư Cư, chú tám Tắc, anh Cao-Hoài-Sang, Nguyễn-Tải-Thân và tôi mà thôi.


Một buổi tối thứ bảy kia, nhằm tối thượng tuần tháng Aout 1925, ba ông hiệp nhau chơi, còn ông thân tôi, vì mắc việc nên vắng mặt; còn tôi với em tôi, thì cứ theo chú tư tôi. Bữa ấy, có cô Đoàn-Ngọc-Quế về bàn, đàm luận một hồi, rồi ba ổng xin kết anh em với cô. Cô bằng lòng, bèn kỉnh:

Chú tư tôi là Trưởng-ca,
Chú tám Tắc Nhị-ca.
Anh Cao-Hoài-Sang, Tam-ca,
Phần cô, thì Tứ-muội.

Còn hai anh em tôi, cô kêu bằng em cả. Đoạn cùng nhau trò chuyện. Lần hồi, chú tư tôi vì nghi cô trá tên, nên năn-nỉ hỏi cô cho đến cùng. Cô liệu khó giấu, nên tỏ thiệt là: V.T.L.


Chú tôi hỏi thăm mồ mả, cô cũng chỉ rõ. Rạng ngày, ba ông dẫn nhau đi tìm đặng nhà mồ của cô, rất nên đẹp đẽ, gần nơi Phú-Thọ, rõ ràng có tên tuổi cô, đề trên mộ bia. Khi kiếm được rồi, mấy ổng mừng rỡ chẳng xiết, bèn đứng trước mộ, khấn vái với cô, xin theo về nhà ông thân tôi nói chuyện chơi, có ý thử coi ban ngày, chư vong có thế nhập bàn đặng chăng?


Khi ba vị về đến nhà lối 9 giờ ban mai, thuật chuyện tìm đặng mả của cô lại cho ông thân tôi hay, đoạn đem bàn ra mà cầu cô. Thật quả, có cô đến đàm luận, rồi nhìn cái mộ mà ba ông đã đến viếng, là nơi xác của cô an nghỉ đời-đời kiếp-kiếp.


Kể từ mấy ổng hiểu đặng chút ít trong việc mầu nhiệm của Trời Đất, lại có thế cầu chư vong trong buổi bạch nhựt, thì mấy ổng càng hứng chí hơn nữa. Ngày đêm không kể đến sự mệt nhọc, ông thân tôi, thì hiệp với anh Cao-Hoài-Sang, nơi nhà tôi mà chuyện vãn với chư vong, còn chú tám với chú tư tôi, thì vầy nhau nơi nhà chú tôi, cũng trong một con đường Bourdais, hai cái nhà ở ngang, trịch nhau chừng vài căn phố.


Từ ấy mấy ông đã chia nhau hai bên, hằng ngày hằng đêm kiếm tìm về việc huyền-bí, mà học hỏi với nhiều vị khuất mặt. Cách ít lâu, có hai vị Tiên-Trưởng đến làm thi văn, bên chú tư tôi thì ông Thanh-Sơn, còn bên ông thân tôi, lại có ông Nhàn-Âm Đạo, cả hai nhà đều đặng mỗi bên, mười bài thi (Thập-thủ-liên-hườn) khác nhau.

 

Một đêm kia, nhằm lúc bốn ông hiệp lại, lập bàn hương-án, khẩn cầu Đức Tả-Quân. Người đã có lòng thành, nên Ngài cũng giáng vào, đề một bài thi, nhưng lâu ngày tôi đã quên phức.


Lại có đêm nọ, mấy ổng vầy lại, vừa ngồi vào bàn, thì có cô V.T.L. đến giáng, cô lại trình diện một người chị em theo với cô, xin vào ra mắt mấy ổng. Cô nói rằng, vị nầy thi-phú cũng hay lắm! Mấy ổng mừng rỡ, bèn mời tân khách giáng vào.


Đoạn người ấy tiếp vô xưng rằng:

- Em là Hớn-Liên-Bạch, xin hiến một bài thi, ra mắt mấy anh, song xin mấy anh chớ nệ chi về văn chương hay dở.

Anh Cao-Hoài-Sang liền tiếp rằng:

- Tôi vừa nghe cô Vương nói rằng, thi văn của cô rất hay, vậy tôi xin ra đề. (Ý M. Cao-Hoài-Sang chưa tin cho mấy, e vì mấy ông kia bịa đặt mà giả mạo gạt ảnh.)

Cô liền khứng chịu, anh Cao-Hoài-Sang ngồi suy nghĩ rồi ra đề: "Tiễn biệt tình lang".

Cô tiếp dở bàn gõ, không ngừng chút nào cả. Mấy ổng ráp lại bài thi như vầy:

Chia gương căn dặn buổi trường-đình,
Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.
Bước rẽ ngùi trông cơn ác xế,
Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.
Ngày chờ mây áng ngàn dâu khuất,
Đêm bặt đèn khuya một bóng nhìn.
Lần lựa cô phòng xuân thỏn-mỏn,
Xa xui ai thấu nỗi đinh-ninh.

Dứt bài thi, mấy ổng rộ lên khen cô rằng: "Văn thiệt là quáng thế!"

Lại xin cô tiếp một bài nữa, lấy đề "Hoài-Lang" mà làm. Cô chẳng suy nghĩ chi, cứ đề một bài rằng:

Động-đình nhớ buổi tạm chia đường,
Bốn giọt nhìn nhau lối rẽ cương.
Trời thảm mây giăng muôn cụm ủ,
Biển sầu nước nhuộm một màu thương.
Cờ thần chạnh lúc vầy đôi bạn,
Tiệc ngọc nào khi hội nhứt trường.
Mượn vận lương-nhân xin nhắn-nhủ,
Vườn xưa tiếng nhạn luống kêu sương.

Thật là tuyệt bút! Mấy ổng khen ngợi chẳng cùng, nhờ nơi đây mà phục đặng lòng tín-ngưỡng của mấy ổng chút ít nữa.


Khi khác mấy ổng lại kiếm nhớ những bạn tác nào, lúc còn sanh tiền, biết làm thi mà mời về, đặng thử nữa! Đoạn nhớ đến M. Huỳnh-Thiên-Kiều, là người buổi sống giúp việc sở tuần thành, bổ vào dinh Đốc-lý Sàigòn, coi về sở Patentes. Người ấy, còn ai ở Sàigòn mà chẳng biết, khi ở thế có nhập vào Hội-Thi-Xã. Mấy ổng bèn vái tên họ của M. Huỳnh-Thiên-Kiều. Trong giây lát, nhập vào bàn đề thi rằng:

Nhắn-nhủ mấy anh một ít lời,
Làng mây hồn trẻ đã xa chơi.
Mẹ già nỗi hiếu chưa rồi đạo,
Vợ yếu niềm duyên chẳng trọn đời.
Chạnh nhớ quê xưa lòng xót-xáy,
Buồn trông cảnh cũ dạ bời-bời.
Ai về gởi lại tình sông núi,
Kiếp khác ân sinh sẽ đáp bồi.
Huỳnh-Thiên-Kiều tự Quí-Cao

Ngày kế đó, cũng vì M. Nguyễn-Trung-Hậu, nguyên là một người bạn trong Thi-Xã-Hội với M. Huỳnh-Thiên-Kiều vì thấy bài thi bữa trước, cũng có ý không tin, nên ngày sau M. Hậu làm một bài đem đến. Khi đem bài thi đến, vái rồi đốt, đoạn mấy ổng vầy nhau lại ngồi, cầu M. Huỳnh-Thiên-Kiều. Trong giây lát, M. Huỳnh-Thiên-Kiều vào tiếp họa bài thi như vầy:

Một tiếng u-minh giống cửa không,
Phồn hoa vụt tỉnh giấc đương nồng.
Ngồi thuyền Bát-nhã qua tình biển,
Mượn nước nhành-dương rưới lửa lòng.
Cuộc thế lạnh-lùng lằn gió lọt,
Đường đời ngán-ngẫm bụi trần lồng.
Kiếp tu xưa tiếc chưa nên Đạo,
Oan trái phủi rồi phép Phật thông.
Ký tên: Quí-Cao

Gặp lối mấy ông đương mê thi-văn, lại có người tuyệt-bút, đến giáng vào đề một bài:

Vịnh Xuân

Ngàn liễu khoe xuân cảnh rỡ màu,
Xuân nồng vườn ngự vẻ thanh tao.
Chào xuân ác lố trăm lằn rạng,
Ghẹo liễu trăng soi một sắc làu.
Thơ-thới cành hôm, hoa đọng ngọc,
Êm-đềm dạo tối, cỏ đeo châu.
Đượm bầu nhân sự xuân qua lại,
Khuất bóng xuân sang khách luống sầu.
Hớn-Liên-Bạch kỉnh hiến.

Hằng đêm, hằng có chư-vị đến, mấy ổng thử cũng hết sách, mà cũng nhờ vậy, mới phục đặng lòng của mỗi người. Như có một buổi, anh Cao-Hoài-Sang buồn, đề một bài thi Tự-thuật, có ý than thân trách phận, sao lăn-lóc với tình đời, tuy tuổi chưa bao nhiêu mà đã mòn-mỏi. Anh đem ra nhà cho ông thân tôi coi, và cũng muốn để cho mấy ổng họa lại chơi cho vui. Nói chuyện với nhau rồi lẩn-quẩn cũng cầu chư-vị nữa! Vào ngồi trong năm phút đồng hồ, thì có ông thân của ảnh, là bác Cao-Hoằng-Ân giáng đến. Thuở bác còn sanh tiền, làm việc Tòa-Án, lại cũng có đổi đi vùng miệt Tây-ninh, Bạc-liêu, và nhiều chỗ khác nữa. Rốt sau, lại về ở Sàigòn rồi mới quá vãng, tôi tưởng nhiều người biết bác lắm. Khi ấy, chú tư tôi thưa với bác rằng: Sẵn dịp anh về đây, nhằm lúc Sang làm một bài thi tự-thán, cậy mấy anh em tôi họa, vậy anh họa chơi luôn thể. Ông thân tôi lại nói, anh cứ việc đề thi, dạy nói thế nào, thì anh định lấy, nhưng tùy theo vận của Từ-Thứ, mà lâu nay làng thi chịu phục là: Voi, mòi, còi, roi, thoi mà làm. Dứt lời, bác Cao-Hoằng-Ân tiếp liền, chẳng đợi phút nào cả. Bài thi như vầy:

Thuyền khơi gió ngược khá nương voi,
Vận thới hầu nên đã thấy mòi.
Vườn cúc hôm nay muôn cụm rỡ,
Rừng tòng buổi trước một cây còi.
Hồng nương dặm gió chi sờn cánh,
Ngựa ruỗi đường hòe há nhọc roi.
Nín nẳm chờ qua cơn bĩ cực,
Thìn lòng chừng có lượng đôi thoi.

Vừa tiếp bài thi ấy, mấy ổng trầm trồ chưa hết, kế gặp vị Đại-Tiên nầy, giáng đề một bài:

Chiêu tập hồn thi bước Đạo điều,
Non xưa chớp cánh nhạn trông theo.
Trời thanh khách gắng lần qua suối,
Đêm rạng trăng soi lướt khỏi đèo.
Mây khỏa đảnh Tần màu gió cuộn,
Thuyền khơi sông Bích cánh buồm treo.
Giang-san một dãy nền chung dựng,
Biển cả chi nao ít mái chèo.
Nhàn-Âm-Đạo

Cách ít lâu, có cô Hớn-Liên-Bạch dẫn đến một vị xin vào ra mắt mấy ổng. Gặp nhằm tiết thu, nên mấy ổng cậy cô đề một bài:

Bi Thu

Im-lìm cây cỏ vẫn in màu,
Mờ-mệt vườn đào điểm sắc thu.
Gió dậy xao Trời mây cuốn ngọc,
Sương lồng ướt đất liễu đeo châu.
Ngựa vàng ruỗi gió thoi đưa sáng,
Thỏ ngọc trau gương dặm vẻ làu.
Non nước đìu-hiu xuân vắng chúa,
Nhìn hoa cảnh úa giục cơn sầu.
Lục-Nương kỉnh hiến.

Dứt bài, cô lại tiếp một bài điệu Động-Đình như sau:

Đầm ấm cảnh Trời mai ác lố,
Thơ thới đưa thuyền khổ khách chèo;
Nhấp-nhô lượn sóng khỏa lèo,
Luồng đông gió tạt cánh bèo ngưng sông.

Một chiếc quạnh bóng hồng nháng ngọn,
Mây đoanh non tuyết đóng nhành thung;
Về Nam đổ cánh rừng tòng,
Ngút xem tủa áng cây đông khóa rèm.

Đường xúm-xít chị em ruỗi bước,
Dắt-dìu nhau kẻ trước người sau;
Tìm nơi hứng giọt mưa dâu,
Để cơn khao-khát khoe màu phù dung.

Đờn nhắn khách năm cung nhặt trỗi,
Vẹt mây đen gió thổi chiều hôm.
Quang-âm ngày tháng dập-dồn,
Ngừa khi trễ bước hoàng-hôn trở đường.

Đường muôn dặm khách đơn thân,
Mượn bóng trăng làu bước vẹn chân.
Khóa kín song thu trau hạnh đức,
Chờ khi Đạo trọn đến non thần.

Non thần tiếng hạc chầu vang đảnh,
Chờ rước người ngay chánh tìm đường;
Mơ-màng chưa tỉnh huỳnh-lương,
Sóng xao biển khổ nên thương khách trần.